Be Vietnam WiseKinh doanh tại Việt Nam

Chương 11 · Mục 11.7/8

Chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và thú y: Luật Chăn nuôi và các sửa đổi năm 2025, quy mô trang trại, mật độ chăn nuôi và giấy chứng nhận đối với trang trại quy mô lớn, thức ăn chăn nuôi và giống vật nuôi, phòng, chống dịch bệnh, kiểm dịch, giết mổ và thuốc thú y theo Luật Thú y, nuôi trồng thủy sản và giao khu vực biển theo Luật Thủy sản, xuất khẩu tôm và cá tra, thẻ vàng IUU của EU và các biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ, kèm ví dụ minh họa

Rà soát ngày · Biên soạn bởi một luật sư chuyên về đầu tư nước ngoài (đã nghỉ hưu) với 20 năm kinh nghiệm hành nghề trong lĩnh vực pháp luật đầu tư Việt Nam · Thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý · Cách chúng tôi kiểm tra (tiếng Anh) · Mở trong ứng dụng

Read in EnglishTải chương 11 (PDF)

Những điểm cần nắm

Ngành, hệ thống văn bản pháp luật và cơ quan quản lý

Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thu hút vốn nước ngoài vào chăn nuôi lợn và gia cầm khép kín, nhà máy thức ăn chăn nuôi, trại sản xuất giống và chế biến thủy sản. Thủy sản là mặt hàng xuất khẩu lớn hơn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2025 đạt 11,32 tỷ USD, và Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) ước tính tôm đạt hơn 4,6 tỷ USD và cá tra hơn 2,1 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, VASEP ghi nhận 9,10 tỷ USD, tăng 11,4%, trong đó tôm đạt 3,75 tỷ USD và cá tra 1,74 tỷ USD. Sản phẩm chăn nuôi, chủ yếu tiêu thụ trong nước, đạt kim ngạch xuất khẩu 627,8 triệu USD trong năm 2025.

Ngành này chịu sự điều chỉnh của ba luật: Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14, Luật Thú y số 79/2015/QH13 và Luật Thủy sản số 18/2017/QH14. Cả ba luật đều đã được sửa đổi bởi Luật số 146/2025/QH15 ngày 11/12/2025, luật sửa đổi, bổ sung mười lăm luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, và cả ba tiếp tục được sửa đổi bởi luật sửa đổi, bổ sung mười luật trong lĩnh vực này được thông qua vào tháng 8/2026, có hiệu lực từ ngày 01/01/2027 và tiếp tục cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục. Các nghị định hướng dẫn chính gồm Nghị định số 13/2020/NĐ-CP về chăn nuôi, được sửa đổi bởi Nghị định số 46/2022/NĐ-CP và Nghị định số 32/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-BNNMT ngày 27/02/2026); Nghị định số 35/2016/NĐ-CP về thú y; và Nghị định số 26/2019/NĐ-CP về thủy sản, được sửa đổi bởi Nghị định số 37/2024/NĐ-CP. Chế tài xử phạt được quy định tại Nghị định số 211/2026/NĐ-CP ngày 16/6/2026 đối với lĩnh vực chăn nuôi và Nghị định số 38/2024/NĐ-CP đối với lĩnh vực thủy sản.

Ở cấp trung ương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện chức năng quản lý thông qua Cục Chăn nuôi và Thú y và Cục Thủy sản và Kiểm ngư, đơn vị đồng thời phụ trách kiểm ngư (xem Khung pháp lý về nông nghiệp và các cơ quan quản lý). Các cải cách năm 2025 và 2026 đã chuyển phần lớn thẩm quyền cấp phép cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan do Chủ tịch giao, đồng thời giao cho cấp xã, thông qua chức năng thú y xã mới, vai trò tuyến đầu trong báo cáo dịch bệnh và kiểm soát giết mổ.

Quy mô trang trại, địa điểm và mật độ chăn nuôi

Luật phân loại cơ sở chăn nuôi thành chăn nuôi trang trại quy mô lớn, quy mô vừa, quy mô nhỏ và chăn nuôi nông hộ (Điều 52). Quy mô được tính theo đơn vị vật nuôi, mỗi đơn vị tương ứng với 500 kg khối lượng vật nuôi sống, với các hệ số quy đổi theo từng loài và độ tuổi. Nghị định số 13/2020/NĐ-CP khi mới ban hành quy định chăn nuôi trang trại quy mô lớn từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên, quy mô vừa từ 30 đến dưới 300, quy mô nhỏ từ 10 đến dưới 30 và chăn nuôi nông hộ dưới 10 đơn vị vật nuôi. Nghị định số 32/2026/NĐ-CP đã viết lại Điều 21 mà không còn các ngưỡng này, và Luật số 146/2025/QH15 đã chuyển thẩm quyền quy định chi tiết Điều 52 từ Chính phủ sang Bộ trưởng, nên các ngưỡng đang có hiệu lực cần được xác nhận theo quy định hiện hành của Bộ trưởng trước khi thiết kế dự án theo một loại quy mô cụ thể.

Mọi trang trại phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 1 Điều 55 của Luật: địa điểm phù hợp với quy hoạch và mật độ chăn nuôi được phép, chuồng trại và trang thiết bị phù hợp với loài vật nuôi, hồ sơ đủ để truy xuất nguồn gốc được lưu giữ ít nhất một năm, biện pháp bảo vệ môi trường và khoảng cách an toàn; Luật số 146/2025/QH15 đã rút gọn danh mục này. Điều 5 Thông tư số 23/2019/TT-BNNPTNT, theo văn bản khi ban hành, quy định khoảng cách tối thiểu đến khu dân cư là 100 m đối với trang trại quy mô nhỏ, 200 m đối với quy mô vừa và 400 m đối với quy mô lớn, và đến trường học, bệnh viện, chợ và nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng lần lượt là 150 m, 300 m và 500 m, với khoảng cách 50 m giữa các trang trại của các chủ sở hữu khác nhau; cần kiểm tra văn bản hiện hành của thông tư để cập nhật các sửa đổi. Trang trại quy mô vừa và nhỏ được cơ quan cấp tỉnh kiểm tra ba năm một lần và phải khắc phục vi phạm trong thời hạn sáu tháng. Người chăn nuôi cũng phải kê khai hoạt động chăn nuôi với Ủy ban nhân dân cấp xã theo Điều 54 của Luật, và Bộ trưởng nay quy định về mã số cơ sở chăn nuôi và truy xuất nguồn gốc theo khoản 4 Điều 11 đã được sửa đổi.

Mật độ chăn nuôi là một ràng buộc về quy hoạch. Theo Điều 53 đã được sửa đổi, Bộ trưởng quy định mật độ chăn nuôi theo vùng và mỗi tỉnh quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn, tính trên tổng diện tích đất nông nghiệp (Điều 22 của Nghị định); các tỉnh đã ban hành các quyết định năm 2026 áp dụng đến năm 2030, như Quyết định số 77/2026/QĐ-UBND của tỉnh Thái Nguyên và Quyết định số 70/2026/QĐ-UBND của tỉnh Cà Mau. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định khu vực không được phép chăn nuôi và chính sách hỗ trợ di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực đó (Điều 80 đã được sửa đổi). Do đó, việc tìm kiếm địa điểm cần bắt đầu từ quyết định về mật độ chăn nuôi và bản đồ khu vực không được phép chăn nuôi của tỉnh, sau đó đến phương thức tiếp cận đất đai (Đất nông nghiệp và tích tụ đất đai) và đánh giá tác động môi trường (Câu hỏi số 89).

Giấy chứng nhận đối với trang trại quy mô lớn

Trang trại quy mô lớn chỉ được hoạt động khi có Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi theo yêu cầu tại khoản 2 Điều 55 của Luật. Theo Điều 23 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP đã được sửa đổi, giấy chứng nhận do cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trang trại giao cấp và thu hồi, hoặc, đối với trang trại nằm trên địa bàn nhiều tỉnh, cơ quan tại nơi thực hiện thủ tục đầu tư. Hồ sơ gồm đơn đề nghị (Mẫu số 01.ĐKCN) và bản thuyết minh về điều kiện chăn nuôi của trang trại (Mẫu số 02.ĐKCN).

Cơ quan có thẩm quyền thẩm định hồ sơ đầy đủ trong thời hạn 5 ngày làm việc, thành lập đoàn đánh giá trong thời hạn 15 ngày làm việc để kiểm tra trang trại theo khoản 1 Điều 55, và cấp giấy chứng nhận trong thời hạn 5 ngày làm việc sau khi đánh giá đạt yêu cầu; trang trại không đạt có sáu tháng để khắc phục và báo cáo. Sau đó, cơ quan có thẩm quyền thực hiện đánh giá giám sát 36 tháng một lần, có thông báo trước sáu tháng, và thu hồi giấy chứng nhận khi trang trại không còn đáp ứng điều kiện và không khắc phục như đã cam kết. Hành vi chăn nuôi trang trại thuộc diện phải có giấy chứng nhận mà không có giấy chứng nhận bị phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng theo Điều 25 Nghị định số 211/2026/NĐ-CP, chưa kể biện pháp khắc phục hậu quả, và Nghị định này quy định mức phạt tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức.

Giấy chứng nhận là bước cuối cùng: một trang trại xây dựng mới trước đó đã phải có đất, chấp thuận về môi trường, các chấp thuận về xây dựng và, đối với nhà đầu tư nước ngoài, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, và có thể đủ điều kiện hưởng ưu đãi (Ưu đãi đầu tư và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao).

Thức ăn chăn nuôi và giống vật nuôi

Thức ăn chăn nuôi được quản lý thông qua công bố sản phẩm và chứng nhận cơ sở. Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc được tự công bố trên cổng thông tin của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, và tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu được kinh doanh ngay sau khi công bố và tự chịu trách nhiệm (Điều 8a của Nghị định). Thức ăn bổ sung phải được thẩm định trước khi công bố và sau đó được lưu hành trong năm năm, việc công bố lại phải thực hiện trong vòng sáu tháng trước khi hết hạn (Điều 33 của Luật đã được thay thế; Điều 8b của Nghị định). Việc thẩm định do cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện đến hết ngày 31/12/2026 và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện từ ngày 01/01/2027. Chỉ thức ăn chăn nuôi đã được công bố mới được nhập khẩu, trừ trường hợp nhập khẩu được phép để tham gia hội chợ, nghiên cứu, khảo nghiệm hoặc sản xuất để xuất khẩu (khoản 3 Điều 41 của Luật), và việc kiểm tra nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu cũng chuyển từ cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường sang cấp tỉnh từ cùng thời điểm.

Nhà máy thức ăn chăn nuôi phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp cho cơ sở sản xuất để xuất khẩu khi nước nhập khẩu yêu cầu, và cơ quan cấp tỉnh cấp cho các cơ sở còn lại (Điều 10 của Nghị định); hồ sơ đầy đủ được thẩm định trong 10 ngày làm việc, và việc đánh giá giám sát được thực hiện 48 tháng một lần, hoặc 60 tháng một lần đối với cơ sở được chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO, GMP hoặc HACCP. Kháng sinh chỉ được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi cho vật nuôi non trong giới hạn nhất định về độ tuổi hoặc khối lượng, như lợn con đến 25 kg, và chỉ trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho vật nuôi và thức ăn đậm đặc cho gia súc nhai lại; theo Điều 12, việc sử dụng kháng sinh nhằm mục đích phòng bệnh đã được loại bỏ theo lộ trình, kết thúc vào ngày 31/12/2025 đối với nhóm cuối cùng.

Đối với giống vật nuôi, Bộ trưởng nay quy định trình tự nhập khẩu bò đực giống, tinh và phôi bò (khoản 4 Điều 20 Luật Chăn nuôi đã được sửa đổi), việc xuất khẩu hoặc trao đổi quốc tế giống vật nuôi thuộc danh mục cấm xuất khẩu phải được Bộ trưởng cho phép (Điều 15 và Điều 21), và giống mới chỉ được công nhận khi đã được khảo nghiệm tại cơ sở đủ điều kiện hoặc có kết quả khoa học tương đương (Điều 26 và Điều 30). Việc nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi có nguy cơ cao có thể dẫn đến việc kiểm tra cơ sở sản xuất ở nước ngoài (Điều 28 của Nghị định).

Phòng, chống dịch bệnh, kiểm dịch và giết mổ

Bệnh dịch tả lợn châu Phi, được xác nhận lần đầu tại Việt Nam vào tháng 02/2019, vẫn lưu hành, và vắc-xin nhược độc sống do Việt Nam sản xuất đã được cấp phép sử dụng từ năm 2022; cúm gia cầm và lở mồm long móng tái phát thường xuyên. Theo Điều 26 Luật Thú y đã được sửa đổi, dịch bệnh xảy ra trong phạm vi một xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã công bố, dịch lan rộng từ hai xã trở lên do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố, và dịch lan rộng từ hai tỉnh trở lên do Bộ trưởng công bố; việc công bố hết dịch chỉ được thực hiện sau khi cơ quan quản lý chuyên ngành thú y trung ương thẩm định đề nghị của tỉnh (Điều 36). Cơ sở hướng đến các thị trường xuất khẩu yêu cầu áp dụng vùng hóa có thể được chứng nhận là cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật theo Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT, được sửa đổi năm 2026 bởi Thông tư số 20/2026/TT-BNNMT.

Kiểm dịch gắn với việc vận chuyển. Động vật, sản phẩm động vật vận chuyển ra khỏi địa bàn cấp tỉnh phải được đăng ký kiểm dịch với cơ quan quản lý chuyên ngành thú y cấp tỉnh (Điều 39 đã được sửa đổi). Hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập tái xuất được đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và khai báo tại cửa khẩu với cơ quan quản lý chuyên ngành thú y trung ương (các Điều từ 41 đến 50 đã được sửa đổi), với các quy định tương ứng đối với động vật, sản phẩm động vật thủy sản (các Điều từ 53 đến 58).

Giết mổ đang được chuyển vào các cơ sở giết mổ tập trung đáp ứng điều kiện vệ sinh thú y; cấp xã tham gia xây dựng mạng lưới và giám sát hoạt động giết mổ, vận chuyển và buôn bán tại địa phương (Điều 76 đã được sửa đổi). Tháng 8/2026, Hà Nội đã phê duyệt mạng lưới 28 cơ sở giết mổ tập trung tại 25 xã, dự kiến hoàn thành vào quý IV năm 2028, nhiều cơ sở trong số đó vẫn chưa có nhà đầu tư; việc phê duyệt mạng lưới không thay thế các thủ tục đầu tư, đất đai và môi trường riêng của từng dự án. An toàn thực phẩm đối với thịt và sản phẩm chế biến được trình bày tại Chế biến nông sản, an toàn thực phẩm, hợp tác xã và sản xuất theo hợp đồng.

Thuốc thú y và người hành nghề thú y

Thuốc thú y chỉ được lưu hành khi đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và có Giấy chứng nhận lưu hành, có thời hạn năm năm; hồ sơ gia hạn phải được nộp ba tháng trước khi hết hạn, và phải đề nghị cấp lại khi thay đổi thành phần hoặc công thức (các Điều từ 78 đến 82 đã được sửa đổi). Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y do Bộ trưởng cấp đối với thuốc dược phẩm và vắc-xin và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp đối với các sản phẩm khác, còn giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán và nhập khẩu thuốc thú y do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp (các Điều từ 96 đến 98). Việc nhập khẩu vắc-xin, vi sinh vật và nguyên liệu thuốc được đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, và cấp tỉnh kiểm tra chất lượng tại cửa khẩu (Điều 100). Cá nhân phải có Chứng chỉ hành nghề thú y do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, có thời hạn năm năm (Điều 109).

Tập đoàn thuốc thú y hoặc vắc-xin nước ngoài thường đăng ký sản phẩm thông qua nhà nhập khẩu hoặc công ty con tại Việt Nam; việc sản xuất trong nước cần giấy chứng nhận sản xuất do Bộ trưởng cấp và hợp đồng chuyển quyền sử dụng công nghệ được thiết kế có tính đến các quy định về chuyển giao công nghệ (Chuyển giao công nghệ và chuyển quyền sử dụng).

Nuôi trồng thủy sản, giống thủy sản và khu vực biển

Theo Điều 38 Luật Thủy sản, cơ sở nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các điều kiện về địa điểm và sử dụng đất hoặc mặt nước, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, an toàn môi trường, thú y và an toàn lao động, và an toàn thực phẩm; hoạt động nuôi lồng bè và nuôi đối tượng thủy sản nuôi chủ lực do Thủ tướng Chính phủ quy định, trên thực tế là tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá tra, phải được đăng ký. Cơ sở sản xuất giống phải có nhân viên kỹ thuật có trình độ đại học (điểm a khoản 2 Điều 28 đã được sửa đổi), chỉ những loài có trong danh mục mới được kinh doanh, và thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng ban hành và công bố tiêu chuẩn áp dụng (Điều 23 và Điều 31 đã được sửa đổi). Quy định chi tiết tại Nghị định số 26/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 37/2024/NĐ-CP.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên biển đã thay đổi từ ngày 01/01/2026. Luật số 146/2025/QH15 đã bãi bỏ giấy phép riêng đối với nuôi trồng thủy sản trên biển (khoản 3 Điều 38 và Điều 39) và thay thế Điều 44: nuôi trồng thủy sản trên biển nay phải có phương án hoặc dự án nuôi trồng thủy sản và quyết định giao khu vực biển, phù hợp với quy hoạch không gian biển, quy hoạch vùng bờ và quy hoạch tỉnh, cũng như yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thời hạn giao khu vực biển tối đa là 50 năm kể từ ngày quyết định, được gia hạn nhiều lần với tổng thời gian không quá 20 năm. Tiền sử dụng khu vực biển chỉ được miễn đối với cá nhân Việt Nam chuyển đổi từ khai thác thủy sản ven bờ sang nuôi trồng thủy sản và người dân thường trú tại địa phương có nguồn sống chủ yếu từ nuôi trồng thủy sản, trong phạm vi ba hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm, và cá nhân được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình trên khu vực biển được giao (khoản 2 Điều 46). Quy định chung về giao khu vực biển tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP đã được sửa đổi, và nuôi trồng thủy sản trong ao và trên đất liền sử dụng đất theo Luật Đất đai (Cách thức tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp cận đất đai).

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, ranh giới nằm giữa khai thác và nuôi trồng. Khai thác hải sản tại vùng biển Việt Nam thuộc ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài (Tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài), trong khi nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống, thức ăn và chế biến thủy sản được mở cửa. Các dự án xa bờ phụ thuộc vào việc tỉnh giao khu vực biển, nên việc sớm làm việc về quy hoạch không gian biển và thủ tục chấp thuận về quốc phòng là hết sức cần thiết.

Xuất khẩu thủy sản, thẻ vàng của EU và biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ

Ủy ban châu Âu đã áp dụng thẻ vàng đối với Việt Nam về khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) vào ngày 23/10/2017. Vào tháng 9/2026, các tỉnh vẫn đang triển khai các khuyến nghị của đợt kiểm tra lần thứ năm của Ủy ban, và Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ định các điểm cập bến, bốc dỡ thủy sản tạm thời từ ngày 29/9/2026 với mục đích rõ ràng là góp phần gỡ thẻ vàng, nên thẻ vàng vẫn được duy trì tại ngày 16/10/2026. Thẻ vàng ảnh hưởng đến sản phẩm khai thác tự nhiên, theo đó các lô hàng xuất sang EU phải có giấy chứng nhận thủy sản khai thác đã được xác nhận và chịu kiểm tra chặt chẽ hơn; tôm và cá tra nuôi nằm ngoài cơ chế giấy chứng nhận thủy sản khai thác. Nghị định số 38/2024/NĐ-CP quy định mức phạt nặng đối với vi phạm IUU.

Tại Hoa Kỳ, lệnh áp thuế chống bán phá giá được áp dụng đối với cá phi lê đông lạnh (cá tra) và tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam. Tháng 02/2026, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã ban hành kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 19 đối với lệnh áp thuế tôm, cho giai đoạn từ tháng 02/2023 đến tháng 01/2024, với biên độ phá giá 25,76% đối với hai bị đơn bắt buộc và 4,58% đối với các công ty hưởng mức thuế riêng rẽ. VASEP cho biết chi phí thuế quan của Hoa Kỳ và yêu cầu hồ sơ theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú ở biển tiếp tục gây áp lực lên thương mại. Đối với Trung Quốc, thị trường dẫn dắt tăng trưởng năm 2026, doanh nghiệp sản xuất phải đăng ký với cơ quan hải quan Trung Quốc và đáp ứng các quy định về ghi nhãn và kiểm nghiệm (Ngành rau quả: trái cây, rau và hoa); các vấn đề rộng hơn về thuế quan và xuất xứ được trình bày tại Xuất khẩu gạo, cà phê và các nông sản chủ lực.

Từ địa điểm đến chuồng trại đi vào hoạt động: cấp phép trang trại chăn nuôi quy mô lớn

  1. Sàng lọc địa điểmKiểm tra quyết định về mật độ chăn nuôi của tỉnh, khu vực không được phép chăn nuôi, quy định về khoảng cách và quy hoạch sử dụng đất trước khi xác lập bất kỳ quyền nào đối với đất.
  2. Đăng ký đầu tưĐược cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (đối với nhà đầu tư nước ngoài) hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư khi thuộc diện phải chấp thuận, và xác nhận các ưu đãi được hưởng.
  3. Bảo đảm quyền sử dụng đấtThuê đất của Nhà nước hoặc nhận quyền sử dụng đất theo phương thức được pháp luật cho phép, và giải quyết bồi thường, tiền thuê đất.
  4. Hoàn tất thủ tục môi trườngLập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc hồ sơ đề nghị cấp giấy phép môi trường theo yêu cầu đối với quy mô và hệ thống xử lý chất thải của trang trại.
  5. Xây dựng và lắp đặt thiết bịXây dựng chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải và biện pháp an toàn sinh học đáp ứng tiêu chuẩn tại khoản 1 Điều 55, với hồ sơ sẵn sàng phục vụ truy xuất nguồn gốc.
  6. Đề nghị cấp giấy chứng nhậnNộp Mẫu số 01.ĐKCN và Mẫu số 02.ĐKCN tại cơ quan cấp tỉnh; thẩm định 5 ngày làm việc, đánh giá trong 15 ngày làm việc, cấp giấy chứng nhận trong 5 ngày làm việc.
  7. Vận hành và duy trìKê khai chăn nuôi với cấp xã, đăng ký kiểm dịch khi vận chuyển, thực hiện chương trình tiêm phòng và chuẩn bị cho đánh giá giám sát 36 tháng một lần.

Tổng quan giấy phép và thủ tục (tháng 10/2026)

Hoạt độngYêu cầuCơ quan có thẩm quyền và căn cứ pháp lý
Trang trại chăn nuôi quy mô lớnGiấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi; đánh giá giám sát 36 tháng một lầnCơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao; Luật số 32/2018/QH14, khoản 2 Điều 55; Nghị định số 13/2020/NĐ-CP, Điều 23 và Điều 24
Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặcTự công bố trên cổng thông tin của Bộ Nông nghiệp và Môi trườngNghị định số 13/2020/NĐ-CP, Điều 8a
Thức ăn bổ sungThẩm định trước khi công bố; lưu hành 5 nămCơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đến hết ngày 31/12/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từ ngày 01/01/2027
Nhà máy thức ăn chăn nuôiGiấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi; đánh giá giám sát 48 hoặc 60 tháng một lầnCơ quan cấp tỉnh (cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với cơ sở sản xuất để xuất khẩu khi có yêu cầu); Nghị định, Điều 10 và Điều 11
Thuốc thú yGiấy chứng nhận lưu hành, 5 năm; gia hạn 3 tháng trước khi hết hạnLuật số 79/2015/QH13, các Điều từ 78 đến 82 đã được sửa đổi
Vận chuyển ra khỏi tỉnhĐăng ký kiểm dịchCơ quan quản lý chuyên ngành thú y cấp tỉnh; Điều 39 đã được sửa đổi
Nuôi lồng bè và đối tượng nuôi chủ lựcĐăng kýLuật số 18/2017/QH14, Điều 38
Nuôi trồng thủy sản trên biểnPhương án hoặc dự án và giao khu vực biển; tối đa 50 năm, gia hạn thêm tối đa 20 nămLuật số 18/2017/QH14, Điều 44 được thay thế bởi Luật số 146/2025/QH15

Ví dụ minh họa

Trang trại lợn khép kín có vốn đầu tư nước ngoài

Một công ty liên doanh, do một tập đoàn nông nghiệp Thái Lan sở hữu 70% và một công ty thức ăn chăn nuôi Việt Nam sở hữu 30%, xây dựng trang trại lợn khép kín từ lợn nái đến lợn thịt với quy mô 2.400 lợn nái trên 40 ha đất thuê tại một tỉnh trung du, được cung ứng thức ăn từ nhà máy thức ăn chăn nuôi của chính mình. Mọi số liệu và thời hạn chỉ mang tính minh họa, không phải báo giá.

Tháng 1 đến tháng 3Địa điểm được sàng lọc theo quyết định về mật độ chăn nuôi và bản đồ khu vực không được phép chăn nuôi của tỉnh; khoảng cách đến thôn và trường học gần nhất vượt xa mức tối thiểu đối với trang trại quy mô lớn.
Tháng thứ 3 đến tháng thứ 9Được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê đất hằng năm; ghi nhận ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp; báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt cho trang trại cùng hệ thống biogas và xử lý nước thải.
Tháng thứ 9 đến tháng thứ 20Xây dựng chuồng trại, hệ thống an toàn sinh học và xử lý chất thải; nhà máy thức ăn chăn nuôi được cơ quan cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận.
Tháng thứ 21Nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi; hồ sơ được thẩm định trong 5 ngày làm việc, đánh giá tại cơ sở vào tuần thứ 3, giấy chứng nhận được cấp 5 ngày làm việc sau đó.
Tháng thứ 21 đến tháng thứ 24Nhập khẩu lợn giống kèm đăng ký kiểm dịch; chương trình an toàn sinh học phòng bệnh dịch tả lợn châu Phi; thức ăn không chứa kháng sinh phòng bệnh.
Năm thứ 4Đợt đánh giá giám sát 36 tháng đầu tiên, được thông báo trước sáu tháng; lợn được bán cho cơ sở giết mổ tập trung, có đăng ký kiểm dịch cho mỗi lần vận chuyển ra ngoài tỉnh.

Nếu trang trại được thiết kế dưới ngưỡng quy mô lớn, trang trại sẽ không cần giấy chứng nhận, nhưng vẫn phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 1 Điều 55 và chịu kiểm tra ba năm một lần.

Nếu liên doanh bổ sung cơ sở giết mổ, liên doanh sẽ cần một địa điểm nằm trong mạng lưới giết mổ tập trung của tỉnh và các chấp thuận riêng về vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm.

Câu hỏi nhà đầu tư thường gặp về chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản

Nhà đầu tư nước ngoài có được sở hữu trang trại chăn nuôi tại Việt Nam không?

Có. Chăn nuôi, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và nuôi trồng thủy sản được mở cửa cho đầu tư nước ngoài thông qua công ty Việt Nam có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trang trại phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 55 Luật Chăn nuôi, và trang trại quy mô lớn phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi do cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cấp. Ngược lại, khai thác hải sản không được mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài.

Thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi cho trang trại quy mô lớn mất bao lâu?

Theo Điều 23 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 32/2026/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền thẩm định hồ sơ đầy đủ trong thời hạn 5 ngày làm việc, thành lập đoàn đánh giá trong thời hạn 15 ngày làm việc và cấp giấy chứng nhận trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi đánh giá đạt yêu cầu. Trang trại không đạt có sáu tháng để khắc phục trước khi được đánh giá lại.

Có còn được sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi để phòng bệnh không?

Không. Điều 12 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP đã loại bỏ kháng sinh phòng bệnh theo lộ trình, nhóm cuối cùng kết thúc vào ngày 31/12/2025. Thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh chỉ được phép dùng cho vật nuôi non trong giới hạn quy định và chỉ trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh hoặc thức ăn đậm đặc cho gia súc nhai lại, và thức ăn chăn nuôi chứa chất cấm bị phạt nặng và đình chỉ hoạt động.

Ai giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản xa bờ?

Theo Điều 44 Luật Thủy sản được thay thế bởi Luật số 146/2025/QH15, nuôi trồng thủy sản trên biển phải có phương án hoặc dự án và quyết định giao khu vực biển của cơ quan có thẩm quyền, phù hợp với quy hoạch biển, quy hoạch tỉnh và yêu cầu quốc phòng. Thời hạn giao khu vực biển tối đa là 50 năm, được gia hạn với tổng thời gian không quá 20 năm.

EU đã gỡ thẻ vàng IUU đối với Việt Nam chưa?

Chưa. Tính đến ngày 16/10/2026, EU chưa gỡ thẻ vàng IUU đối với Việt Nam. Ủy ban châu Âu áp dụng thẻ vàng vào ngày 23/10/2017, và vào tháng 9/2026, các tỉnh vẫn đang triển khai các khuyến nghị của đợt kiểm tra lần thứ năm của Ủy ban. Thẻ vàng ảnh hưởng đến sản phẩm khai thác tự nhiên, vốn phải có giấy chứng nhận thủy sản khai thác đã được xác nhận; tôm và cá tra nuôi nằm ngoài cơ chế giấy chứng nhận thủy sản khai thác.

Thuật ngữ thường gặp trong hồ sơ, tài liệu

Tiếng AnhTiếng ViệtGiải nghĩa
Large-scale farmChăn nuôi trang trại quy mô lớnNhóm quy mô cao nhất, phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi.
Certificate of eligibility for livestock farmingGiấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôiGiấy chứng nhận do cấp tỉnh cấp cho trang trại quy mô lớn (khoản 2 Điều 55).
Livestock unitĐơn vị vật nuôiĐơn vị tương ứng 500 kg khối lượng vật nuôi sống, dùng để xác định quy mô trang trại.
Livestock densityMật độ chăn nuôiGiới hạn số đơn vị vật nuôi trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Supplementary feedThức ăn bổ sungSản phẩm bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, được thẩm định trước khi công bố và lưu hành trong 5 năm.
Veterinary drug circulation certificateGiấy chứng nhận lưu hành thuốc thú yVăn bản cho phép lưu hành thuốc thú y trong thời hạn 5 năm.
Animal quarantineKiểm dịch động vậtKiểm soát sức khỏe đối với động vật, sản phẩm động vật được vận chuyển, nhập khẩu hoặc xuất khẩu.
Disease-safe facilityCơ sở an toàn dịch bệnh động vậtCơ sở được chứng nhận không có các bệnh dịch được chỉ định, phục vụ hoạt động thương mại.
Key farmed aquatic speciesĐối tượng thủy sản nuôi chủ lựcCác loài, như tôm và cá tra, mà hoạt động nuôi phải được đăng ký.
Sea-area allocationGiao khu vực biểnViệc giao một khu vực biển để nuôi trồng thủy sản theo Điều 44.
Mục tiếp theo · 11.8Chế biến nông sản, an toàn thực phẩm, hợp tác xã và sản xuất theo hợp đồngQuy định an toàn thực phẩm nào được áp dụng sau khi Nghị định số 46/2026/NĐ-CP bị tạm ngưng hiệu lực năm 2026, nhà máy chế biến được cấp giấy chứng nhận như thế nào, sản phẩm được công bố, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc ra sao, nhà đầu tư nước ngoài được tham gia hợp tác xã đến mức nào, Nhà nước hỗ trợ những gì cho hợp đồng liên kết, và cách soạn thảo hợp đồng bao tiêu nông sản đủ sức đứng vững trước tình trạng bán sản phẩm ra ngoài hợp đồng.Đọc tiếp →

Nội dung liên quan trong cẩm nang

Câu hỏi thường gặp liên quan (tiếng Anh)

Nguồn chính thức

Bạn có câu hỏi về trường hợp cụ thể của mình?

Hãy hỏi Lawbot, chatbot AI cung cấp thông tin pháp lý của Be Vietnam Wise. Lawbot đối chiếu các nguồn chính thức của Việt Nam và chỉ dẫn đến văn bản pháp luật điều chỉnh. Nếu bạn cần hỗ trợ cho dự án hiện tại hoặc có câu hỏi về kinh doanh tại Việt Nam, vui lòng liên hệ với chúng tôi.

Hỏi Lawbot về nội dung nàyMở trong ứng dụngLiên hệ với chúng tôi

Trang này cung cấp thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý. Thuế suất, ngưỡng và thủ tục có thể thay đổi; nội dung được rà soát theo các nguồn chính thức, nhưng trước khi hành động, bạn nên xác nhận mọi vấn đề quan trọng với cơ quan có thẩm quyền hoặc với luật sư được phép hành nghề tại Việt Nam. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Anh; nếu có khác biệt, văn bản pháp luật gốc bằng tiếng Việt là căn cứ duy nhất có giá trị pháp lý.