Chương 11 · Mục 11.4/8
Giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật: công nhận lưu hành và tự công bố lưu hành giống cây trồng, sản xuất và kinh doanh giống, bảo hộ giống cây trồng, công nhận lưu hành, sản xuất và nhập khẩu phân bón, đăng ký thuốc bảo vệ thực vật và danh mục được phép sử dụng, cấm sử dụng, kiểm dịch thực vật và phân tích nguy cơ dịch hại, cây trồng biến đổi gen và chỉnh sửa gen, và gia nhập thị trường đối với nhà cung cấp vật tư nước ngoài
Những điểm cần nắm
- Giống thuộc loài cây trồng chính chỉ được sản xuất, buôn bán hoặc nhập khẩu sau khi được công nhận lưu hành, nay có hiệu lực 20 năm đối với cây hằng năm và 25 năm đối với cây lâu năm (khoản 2 Điều 15 Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15, từ ngày 1/1/2026); các giống khác được tự công bố lưu hành, và Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật quyết định công nhận trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT).
- Giống cây trồng mới được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ trong thời hạn 25 năm đối với giống cây thân gỗ và cây nho và 20 năm đối với các giống cây trồng khác (Điều 169), khi chứng minh được tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp; Việt Nam áp dụng Văn kiện năm 1991 của Công ước UPOV.
- Phân bón là hàng hóa kinh doanh có điều kiện, phải có quyết định công nhận lưu hành có hiệu lực năm năm (Điều 36 và Điều 37 Luật Trồng trọt); hoạt động sản xuất phải có giấy chứng nhận có hiệu lực năm năm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp (Nghị định số 84/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2026/NĐ-CP); và từ năm 2026, hoạt động buôn bán phân bón không còn phải có giấy chứng nhận, chỉ cần có địa điểm kinh doanh hợp pháp và người bán hàng đã được tập huấn (Điều 42 sửa đổi).
- Thuốc bảo vệ thực vật chỉ được sử dụng nếu có tên trong danh mục được phép sử dụng ban hành kèm theo Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT (có hiệu lực từ ngày 10/2/2026, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2026/TT-BNNMT từ ngày 15/8/2026), trong đó cấm sử dụng 31 hoạt chất; giấy chứng nhận đăng ký có hiệu lực năm năm và hồ sơ được thẩm định trong thời hạn bốn tháng (Điều 51 Luật số 41/2013/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung), còn giấy phép nhập khẩu, trong trường hợp phải có, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp trong thời hạn năm ngày làm việc.
- Vật liệu nhân giống cây trồng, quả tươi và củ khoai tây, khoai lang tươi phải được phân tích nguy cơ dịch hại trước khi nhập khẩu lần đầu và phải có giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu (Thông tư số 14/2024/TT-BNNPTNT; Điều 26 đến Điều 28 Luật số 41/2013/QH13), và đất không còn được đưa vào Việt Nam, trừ trường hợp được Chính phủ cho phép (khoản 5a mới bổ sung vào Điều 13).
Tổng quan khung pháp lý về vật tư trồng trọt
Ba đạo luật điều chỉnh những gì người nông dân được gieo trồng và sử dụng. Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 điều chỉnh giống cây trồng, phân bón và canh tác; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 điều chỉnh thuốc bảo vệ thực vật, phòng chống sinh vật gây hại và kiểm dịch thực vật; và Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 điều chỉnh sinh vật biến đổi gen. Bảo hộ giống cây trồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, đã được sửa đổi, bổ sung, gần đây nhất bởi Luật số 131/2025/QH15 (Câu hỏi thường gặp số 84). Ba đạo luật đầu tiên đã được điều chỉnh lại từ ngày 1/1/2026 bởi Luật số 146/2025/QH15, được thông qua ngày 11/12/2025, sửa đổi, bổ sung 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, rút ngắn thời hạn giải quyết, bãi bỏ một số giấy phép, chuyển thẩm quyền quy định thủ tục từ Chính phủ sang Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường và chuyển nhiều thẩm quyền quyết định cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Nghị định số 94/2019/NĐ-CP về giống cây trồng và Nghị định số 84/2019/NĐ-CP về phân bón, cùng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 130/2022/NĐ-CP, tiếp tục có hiệu lực đối với những nội dung chưa được thay thế; Nghị định số 33/2026/NĐ-CP ngày 21/1/2026 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 84/2019/NĐ-CP, Nghị định số 116/2014/NĐ-CP về bảo vệ thực vật và Nghị định số 66/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và dịch vụ xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật. Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT, có hiệu lực từ ngày 23/1/2026, hiện quy định thủ tục công nhận lưu hành giống cây trồng, công nhận lưu hành và cấp giấy phép nhập khẩu phân bón, cấp giấy phép nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật và cấp giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu. Giấy phép được cấp trước năm 2026 tiếp tục có hiệu lực theo thời hạn ghi trong giấy phép (Điều 17 Luật số 146/2025/QH15). Cơ quan quản lý ở trung ương là Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; các cơ quan quản lý và hệ thống văn bản pháp luật rộng hơn được giới thiệu tại mục Khung pháp lý về nông nghiệp và các cơ quan quản lý.
Giống cây trồng: công nhận lưu hành, tự công bố lưu hành, sản xuất và buôn bán
Điều 13 Luật Trồng trọt chia giống cây trồng thành hai nhóm. Giống thuộc loài cây trồng chính, có tên trong danh mục do Bộ trưởng ban hành (lúa và ngô là những ví dụ điển hình), chỉ được sản xuất, buôn bán, xuất khẩu hoặc nhập khẩu sau khi có quyết định công nhận lưu hành, trừ trường hợp phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm, trưng bày, trao đổi quốc tế hoặc sản xuất hạt giống lai để xuất khẩu. Mọi giống khác được lưu hành trên cơ sở tự công bố lưu hành của tổ chức, cá nhân sản xuất theo Điều 17, nêu rõ tên giống, giá trị canh tác và giá trị sử dụng so với tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn cơ sở, cùng thông tin về giống và quy trình sản xuất; Cục đăng tải bản tự công bố trên cổng thông tin điện tử trong thời hạn năm ngày làm việc, và việc buôn bán được thực hiện kể từ khi bản tự công bố được đăng tải (Điều 7 Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT). Tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng tại Việt Nam được nộp đơn (khoản 3 Điều 13).
Việc công nhận lưu hành đòi hỏi có tên giống, kết quả khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định, kết quả khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia, mẫu giống lưu và thông tin về giống được công bố (khoản 1 Điều 15), và việc khảo nghiệm phải do tổ chức khảo nghiệm độc lập được công nhận cho mục đích này thực hiện (khoản 5 Điều 13). Khi hồ sơ đã đầy đủ, Cục quyết định trong thời hạn 15 ngày làm việc. Quyết định công nhận lưu hành nay có hiệu lực 20 năm đối với cây hằng năm và 25 năm đối với cây lâu năm và được gia hạn (khoản 2 Điều 15 sửa đổi); hồ sơ gia hạn được nộp trong thời hạn sáu tháng trước khi hết hiệu lực và được quyết định trong thời hạn năm ngày làm việc. Quyết định được ban hành trước năm 2026 có hiệu lực 20 năm hoặc 25 năm kể từ ngày ban hành, và các giống có tên trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh trước đây được tiếp tục lưu hành trong cùng thời hạn (khoản 10 và khoản 11 Điều 17 Luật số 146/2025/QH15). Giống cây trồng đặc sản và giống địa phương đã sử dụng lâu đời có thể được công nhận lưu hành đặc cách mà không phải thực hiện đầy đủ chu trình khảo nghiệm (Điều 16).
Tổ chức, cá nhân sản xuất giống phải có địa điểm và trang thiết bị đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia về quy trình sản xuất hoặc, trường hợp chưa có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn cơ sở; tổ chức, cá nhân buôn bán giống phải có địa điểm kinh doanh hợp pháp và lưu giữ thông tin truy xuất nguồn gốc lô giống (Điều 22, được sửa đổi, bổ sung từ năm 2026, theo đó bãi bỏ yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất phải là chủ sở hữu hoặc được chuyển giao quyền đối với giống). Giống cây trồng lâu năm nhân bằng phương pháp ghép phụ thuộc vào cây đầu dòng và vườn cây đầu dòng do cấp tỉnh công nhận (Điều 24; Điều 8 Thông tư), và nhãn giống phải thể hiện tên giống, cấp giống, mã số lưu hành, mã số lô giống, các mốc thời gian và xuất xứ (Điều 27; Điều 9 Thông tư).
Nhập khẩu và xuất khẩu. Giống đã được công nhận lưu hành hoặc tự công bố lưu hành được nhập khẩu theo quy định về ngoại thương, và giống nhập khẩu để sản xuất hoặc kinh doanh phải được cơ quan chuyên ngành về trồng trọt thuộc Bộ kiểm tra nhà nước về chất lượng (khoản 1 và khoản 3 Điều 29). Giống chưa được công nhận lưu hành chỉ được nhập khẩu hoặc xuất khẩu để nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo, triển lãm hoặc trao đổi không vì mục đích thương mại, với giấy phép nay do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp trong thời hạn 10 ngày làm việc (khoản 2 Điều 28 và khoản 2 Điều 29 sửa đổi; Điều 10 và Điều 11 Thông tư). Phụ lục I Thông tư liệt kê các nguồn gen cấm xuất khẩu, bao gồm một số giống lúa, cây ăn quả và chè, dòng bố mẹ của giống lai và sâm Ngọc Linh. Vật liệu nhân giống nhập khẩu cũng phải qua kiểm dịch thực vật như trình bày dưới đây.
Bảo hộ giống cây trồng
Việc công nhận lưu hành cho phép một giống được bán ra thị trường; nhưng không ngăn cản người khác bán giống đó. Độc quyền chỉ phát sinh từ Bằng bảo hộ giống cây trồng theo Phần thứ tư Luật Sở hữu trí tuệ. Giống cây trồng đủ điều kiện bảo hộ nếu có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp (Điều 158). Giống được coi là có tính mới nếu vật liệu nhân giống hoặc sản phẩm thu hoạch của giống đó chưa được người chọn tạo giống hoặc người được người chọn tạo giống cho phép bán tại Việt Nam trước ngày nộp đơn quá một năm, hoặc tại nước ngoài trước ngày nộp đơn quá sáu năm đối với giống cây thân gỗ và cây nho và quá bốn năm đối với các loài cây trồng khác (Điều 159). Bằng bảo hộ có hiệu lực kể từ ngày cấp trong thời hạn 25 năm đối với giống cây thân gỗ và cây nho và 20 năm đối với các giống cây trồng khác (Điều 169). Bằng bảo hộ trao cho chủ bằng độc quyền sản xuất, chế biến nhằm mục đích nhân giống, chào hàng, bán, xuất khẩu, nhập khẩu và lưu giữ vật liệu nhân giống (Điều 186), trừ các ngoại lệ đối với việc sử dụng cho nhu cầu cá nhân không vì mục đích thương mại, nghiên cứu chọn tạo giống, tạo ra giống cây trồng mới và việc hộ gia đình sử dụng sản phẩm thu hoạch của mình để gieo trồng lại trên diện tích đất của mình (Điều 190).
Người chọn tạo giống nước ngoài thuộc quốc gia có thỏa thuận về bảo hộ giống cây trồng với Việt Nam, hoặc có nơi cư trú hoặc cơ sở sản xuất tại Việt Nam, được nộp đơn (khoản 2 Điều 157); Việt Nam là thành viên UPOV và áp dụng Văn kiện năm 1991. Đơn được Bộ Nông nghiệp và Môi trường thẩm định thông qua Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cơ quan công bố đơn và văn bằng bảo hộ trên cổng thông tin điện tử của mình, và người chọn tạo giống có thể đề nghị giải quyết đồng thời việc công nhận lưu hành và bảo hộ (khoản 4 Điều 13 Luật Trồng trọt). Bên chuyển giao quyền sử dụng giống được bảo hộ cần giám sát việc áp dụng ngoại lệ tự để giống của nông dân; việc thực thi quyền được trình bày tại mục Thực thi quyền sở hữu trí tuệ và chống hàng giả.
Phân bón: công nhận lưu hành, sản xuất, buôn bán và nhập khẩu
Phân bón là hàng hóa kinh doanh có điều kiện, phải có quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam, trừ phân bón hữu cơ sản xuất không vì mục đích thương mại, phân bón nhập khẩu theo giấy phép nhập khẩu và phân bón sản xuất để xuất khẩu theo hợp đồng (khoản 1 Điều 36). Tổ chức trong nước hoặc tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh trong lĩnh vực phân bón được đăng ký, mỗi công thức được đăng ký một tên (khoản 3 và khoản 4 Điều 36). Sản phẩm phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón, nay được ban hành kèm theo Thông tư số 86/2025/TT-BNNMT, và có kết quả khảo nghiệm đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia, trừ các loại được miễn khảo nghiệm (khoản 1 Điều 37). Theo Điều 13 Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT, Cục thẩm định trong thời hạn ba tháng; quyết định công nhận có hiệu lực năm năm (khoản 2 Điều 36), và hồ sơ gia hạn, được nộp ít nhất ba tháng trước khi hết hiệu lực kèm báo cáo về tình hình sản xuất, nhập khẩu và sử dụng, được quyết định trong thời hạn bảy ngày làm việc. Điều 12 Thông tư phân loại phân bón thành phân bón vô cơ (hóa học), phân bón hữu cơ hoặc phân bón sinh học, và thành phân bón rễ hoặc phân bón lá.
Hoạt động sản xuất phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón, có hiệu lực năm năm (Điều 41). Từ năm 2026, các điều kiện gồm có địa điểm sản xuất và nhà xưởng phù hợp với quy mô, dây chuyền và trang thiết bị sản xuất phù hợp với từng loại phân bón, khu vực chứa nguyên liệu và khu vực chứa thành phẩm riêng biệt, và người quản lý sản xuất có trình độ đại học chuyên ngành trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học hoặc sinh học; Luật số 146/2025/QH15 đã bãi bỏ điều kiện về phòng thử nghiệm của cơ sở và hệ thống quản lý chất lượng ISO. Theo Điều 17 Nghị định số 84/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định số 33/2026/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi kiểm tra thực tế được hoàn thành trong thời hạn 17 ngày làm việc, và hồ sơ cấp lại được nộp ba tháng trước khi hết hiệu lực.
Hoạt động buôn bán không còn phải có giấy chứng nhận. Điều 42 sửa đổi chỉ yêu cầu có địa điểm kinh doanh hợp pháp, có địa chỉ rõ ràng và người bán hàng đã được tập huấn theo hướng dẫn của Bộ, trừ trường hợp có trình độ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành phù hợp, và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán trước đây. Việc nhập khẩu phân bón đã được công nhận lưu hành không cần giấy phép, đối với tổ chức đăng ký hoặc tổ chức nhập khẩu được tổ chức đăng ký ủy quyền (khoản 1 Điều 44). Phải có giấy phép đối với phân bón chưa được công nhận lưu hành nhập khẩu để khảo nghiệm, sử dụng cho sân thể thao và khu vui chơi giải trí, phục vụ dự án đầu tư của nước ngoài, làm quà tặng và hàng mẫu, tham gia hội chợ, triển lãm, phục vụ nghiên cứu hoặc làm nguyên liệu sản xuất phân bón khác (khoản 2 Điều 44); từ năm 2026, hàng tạm nhập tái xuất, quá cảnh, gửi kho ngoại quan và đưa vào khu chế xuất không còn phải có giấy phép. Cơ quan cấp tỉnh quyết định trong thời hạn bảy ngày làm việc (Điều 17 Thông tư). Phân bón nhập khẩu phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng (Điều 46). Phân bón chịu thuế GTGT 5% kể từ ngày 1/7/2025 (Thuế GTGT và hóa đơn điện tử).
Thuốc bảo vệ thực vật: đăng ký, danh mục, sản xuất, buôn bán và nhập khẩu
Việt Nam quản lý thuốc bảo vệ thực vật thông qua hai danh mục do Bộ trưởng ban hành. Thuốc bảo vệ thực vật chỉ được sản xuất, buôn bán và sử dụng nếu có tên trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, và các chất có tên trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng không được sử dụng. Các danh mục hiện hành được ban hành kèm theo Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT ngày 26/12/2025, có hiệu lực từ ngày 10/2/2026, thay thế Thông tư số 25/2024/TT-BNNPTNT; Thông tư này bổ sung 17 hoạt chất mới, trong đó có sáu hoạt chất sinh học, và giữ nguyên danh mục cấm gồm 31 hoạt chất. Thông tư loại bỏ carbosulfan, được tiếp tục sản xuất trong ba tháng và buôn bán, sử dụng trong hai năm, và benfuracarb, không được nhập khẩu và được buôn bán, sử dụng trong một năm. Thông tư số 28/2026/TT-BNNMT, có hiệu lực từ ngày 15/8/2026, bổ sung vài trăm tên thương phẩm. Theo thông tin báo chí, các đợt rà soát trước đó đã loại bỏ paraquat, 2,4-D, chlorpyrifos ethyl, fipronil, carbendazim và glyphosate.
Việc đăng ký được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân sản xuất hoạt chất, thuốc kỹ thuật hoặc thuốc thành phẩm từ thuốc kỹ thuật trong nước, tổ chức, cá nhân sản xuất nước ngoài có văn phòng đại diện, công ty hoặc chi nhánh kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam, và tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện sản xuất hoặc buôn bán được một trong các chủ thể nêu trên ủy quyền (Điều 50). Hồ sơ gồm giấy phép khảo nghiệm, nhãn thuốc và kết quả khảo nghiệm hiệu lực sinh học tại Việt Nam (khoản 1 Điều 51), do đó việc đăng ký phải được tiến hành sau một chương trình khảo nghiệm theo giấy phép khảo nghiệm (Điều 55 và Điều 56) do tổ chức khảo nghiệm được công nhận thực hiện. Từ năm 2026, Cục thẩm định trong thời hạn bốn tháng, sau đó Bộ trưởng bổ sung sản phẩm vào danh mục được phép sử dụng và giấy chứng nhận đăng ký có hiệu lực năm năm được cấp (khoản 2 và khoản 3 Điều 51 sửa đổi). Quy định chi tiết được ban hành tại Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT, đã được sửa đổi, bổ sung, gần đây nhất bởi Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT.
Sản xuất và buôn bán. Nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, còn cửa hàng hoặc nhà phân phối phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán, mỗi loại có hiệu lực năm năm (Điều 66) và, kể từ Nghị định số 33/2026/NĐ-CP, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp. Nhà xưởng sản xuất và kho chứa phải nằm trong khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp và đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hóa chất nguy hiểm, và người quản lý, điều hành phải có trình độ đại học chuyên ngành hóa học, bảo vệ thực vật, sinh học hoặc nông học; cơ quan có thẩm quyền kiểm tra thực tế trong thời hạn 20 ngày làm việc đối với cơ sở sản xuất và 10 ngày làm việc đối với cơ sở buôn bán, và quyết định trong thời hạn năm ngày làm việc. Người bán hàng phải có trình độ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành phù hợp hoặc có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc bảo vệ thực vật.
Nhập khẩu. Tổ chức đăng ký thuốc bảo vệ thực vật có tên trong danh mục được nhập khẩu hoặc ủy quyền cho tổ chức khác nhập khẩu mà không cần giấy phép (khoản 1 Điều 67), nhưng phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng khi nhập khẩu (khoản 3 Điều 67). Phải có giấy phép đối với thuốc chưa có tên trong danh mục được nhập khẩu để tái xuất, để sản xuất xuất khẩu theo hợp đồng, để khảo nghiệm, nghiên cứu, thực hiện dự án của nước ngoài, làm hàng mẫu và tham gia triển lãm; đối với thuốc xông hơi khử trùng chứa hoạt chất methyl bromide hoặc hoạt chất có độ độc cấp tính loại I, II theo GHS; và đối với chất thuộc danh mục cấm nhập khẩu để làm chất chuẩn (khoản 2 Điều 67). Từ năm 2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép này (khoản 5 Điều 67 sửa đổi), sau khi thẩm định trong thời hạn năm ngày làm việc, với thời hạn tối đa 12 tháng, hoặc trong năm dương lịch đối với methyl bromide (Điều 3 Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT).
Kiểm dịch thực vật đối với hàng nhập khẩu và xuất khẩu
Kiểm dịch thực vật bảo vệ Việt Nam trước sinh vật gây hại từ nước ngoài và chứng nhận hàng xuất khẩu đáp ứng tiêu chuẩn của nước nhập khẩu. Thông tư số 14/2024/TT-BNNPTNT, có hiệu lực từ ngày 15/12/2024, ban hành hai danh mục. Hàng hóa thuộc Danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật của nước xuất khẩu, không nhiễm đối tượng kiểm dịch thực vật và sinh vật gây hại lạ, và vật liệu đóng gói phải được xử lý theo tiêu chuẩn của Việt Nam (khoản 1 Điều 26 Luật số 41/2013/QH13). Hàng hóa thuộc Danh mục vật thể phải phân tích nguy cơ dịch hại trước khi nhập khẩu, hẹp hơn, gồm vật liệu nhân giống (cây giống, hạt giống, củ giống và các bộ phận dùng để nhân giống, trừ cây nuôi cấy mô và hạt giống cây họ cải, lúa, ngô, kê, hành và tỏi), quả tươi và củ khoai lang, khoai tây tươi. Đối với các vật thể này, cơ quan kiểm dịch thực vật trung ương tiến hành phân tích nguy cơ dịch hại trên cơ sở thông tin do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cung cấp, sau đó cho phép hoặc không cho phép nhập khẩu từ nước đó (Điều 27); do vậy, việc mở cửa thị trường cho một loại quả mới hoặc một xuất xứ mới được thực hiện giữa chính phủ với chính phủ và có thể kéo dài nhiều năm.
Khi đã được mở cửa thị trường, mỗi lô hàng thuộc danh mục phải phân tích nguy cơ dịch hại phải có giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu (khoản 2 Điều 26), do Cục cấp trong thời hạn 10 ngày làm việc và có hiệu lực tối đa 12 tháng (Điều 9 Thông tư số 43/2018/TT-BNNPTNT, được thay thế bởi Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT); từ năm 2026, hồ sơ không còn bao gồm hợp đồng thương mại hoặc giấy đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 28 sửa đổi). Tổ chức, cá nhân nhập khẩu đăng ký kiểm dịch đối với từng lô hàng trước khi nhập khẩu, cơ quan có thẩm quyền xác định địa điểm và thời gian kiểm dịch trong thời hạn một ngày làm việc, và giấy chứng nhận được cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi bắt đầu kiểm dịch nếu hàng hóa đáp ứng yêu cầu; hàng hóa chỉ được thông quan sau khi hoàn thành kiểm dịch (Điều 29 và Điều 33). Vật liệu nhân giống nhập khẩu phải được kiểm dịch sau nhập khẩu (Điều 30). Từ năm 2026, việc đưa đất vào Việt Nam bị cấm, trừ cây nhập khẩu có đất trong bầu rễ theo quy định của Chính phủ và đất phục vụ nghiên cứu khoa học (khoản 5a mới bổ sung vào Điều 13).
Hàng xuất khẩu thuộc danh mục kiểm dịch được chứng nhận theo pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nước nhập khẩu (Điều 31), và nhiều nghị định thư còn yêu cầu vùng trồng và cơ sở đóng gói phải được cấp mã số (Ngành rau quả: trái cây, rau và hoa). Tổ chức cung cấp dịch vụ xông hơi khử trùng và xử lý vật thể phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện do cơ quan trung ương cấp theo Nghị định số 66/2016/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung.
Cây trồng biến đổi gen, cây trồng chỉnh sửa gen và thức ăn chăn nuôi
Luật số 146/2025/QH15 đã xác định lại ranh giới quản lý công nghệ sinh học. Khoản 27 Điều 3 Luật Đa dạng sinh học sửa đổi định nghĩa sinh vật biến đổi gen là sinh vật có vật chất di truyền bị biến đổi bằng công nghệ gen và chứa vật chất di truyền mới từ loài khác, hoặc vật chất tổng hợp không giống với gen của loài đó; khoản 32 Điều 3 mới định nghĩa sinh vật chỉnh sửa gen là sinh vật bị biến đổi bằng công nghệ gen nhưng không chứa vật chất ngoại lai hoặc tổng hợp nêu trên. Điều 65 sửa đổi giao Chính phủ quy định việc xác định và quản lý cả hai loại sinh vật này. Cho đến khi Chính phủ ban hành quy định, Nghị định số 69/2010/NĐ-CP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, đã được sửa đổi, bổ sung, tiếp tục được áp dụng theo khoản 1 Điều 17 Luật số 146/2025/QH15. Khái quát, nghị định này yêu cầu phải có Giấy chứng nhận an toàn sinh học trước khi cây trồng biến đổi gen được phóng thích ra môi trường và Giấy xác nhận đủ điều kiện trước khi được sử dụng làm thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi, đồng thời các quy định về giống cây trồng cũng được áp dụng; các quyết định công nhận đặc cách giống cây trồng biến đổi gen đã ban hành trước đây tiếp tục có hiệu lực theo khoản 10 Điều 17 Luật số 146/2025/QH15. Nhà đầu tư vào các tính trạng chỉnh sửa gen cần theo dõi sát nghị định sắp được ban hành, vì định nghĩa mới nhằm tách các sinh vật này khỏi cơ chế quản lý sinh vật biến đổi gen.
Thức ăn chăn nuôi, kể cả thức ăn chăn nuôi được sản xuất từ cây trồng, được điều chỉnh bởi Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 và được trình bày tại mục Chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và thú y.
Vật tư trồng trọt: tóm tắt các thủ tục cấp phép chính
| Vật tư | Cấp phép đưa ra thị trường | Cơ quan quyết định và thời hạn | Hiệu lực | Nhập khẩu |
|---|---|---|---|---|
| Giống thuộc loài cây trồng chính | Công nhận lưu hành sau khảo nghiệm DUS và khảo nghiệm giá trị canh tác, giá trị sử dụng | Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; 15 ngày làm việc | 20 năm (cây hằng năm), 25 năm (cây lâu năm), được gia hạn | Tự do nếu đã được công nhận; kiểm tra chất lượng; kiểm dịch |
| Các giống khác | Tự công bố lưu hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử | Cục; 5 ngày làm việc | Theo nội dung tự công bố | Tự do nếu đã tự công bố; kiểm dịch |
| Giống cây trồng được bảo hộ | Bằng bảo hộ giống cây trồng | Bộ, thông qua Cục | 25 năm (cây thân gỗ và cây nho), 20 năm (các giống khác) | Chủ bằng kiểm soát việc nhập khẩu vật liệu nhân giống |
| Phân bón | Công nhận lưu hành | Cục; thẩm định tối đa 3 tháng | 5 năm, được gia hạn | Không cần giấy phép nếu đã được công nhận; phải có giấy phép trong các trường hợp được liệt kê (cấp tỉnh, 7 ngày làm việc) |
| Nhà máy sản xuất phân bón | Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; kiểm tra 17 ngày làm việc | 5 năm | Không áp dụng |
| Thuốc bảo vệ thực vật | Đăng ký và bổ sung vào danh mục được phép sử dụng | Cục thẩm định 4 tháng; Bộ trưởng bổ sung vào danh mục | 5 năm, được gia hạn | Không cần giấy phép đối với tổ chức đăng ký; phải có giấy phép trong các trường hợp được liệt kê (cấp tỉnh, 5 ngày làm việc, 12 tháng) |
| Nhà máy hoặc cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật | Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất hoặc buôn bán | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; 20 hoặc 10 ngày làm việc, cộng thêm 5 ngày | 5 năm | Không áp dụng |
| Thực vật và sản phẩm thực vật | Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật; phân tích nguy cơ dịch hại và giấy phép nhập khẩu đối với vật thể thuộc danh mục | Cơ quan kiểm dịch thực vật trung ương; giấy phép 10 ngày làm việc | Giấy phép tối đa 12 tháng | Đăng ký kiểm dịch từng lô hàng; thông quan sau khi hoàn thành kiểm dịch |
Gia nhập thị trường đối với nhà cung cấp vật tư nước ngoài
- Lựa chọn hình thức hiện diệnVăn phòng đại diện hoặc chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực là đủ để đăng ký giống cây trồng, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (khoản 3 Điều 13 và khoản 3 Điều 36 Luật Trồng trọt; khoản 2 Điều 50 Luật số 41/2013/QH13), nhưng hoạt động nhập khẩu và phân phối đòi hỏi phải có công ty có quyền kinh doanh và giấy phép kinh doanh mà thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài phải có (Câu hỏi thường gặp số 95; mục 11.1 về tiếp cận thị trường).
- Phân loại sản phẩmPhân loại từng sản phẩm, đối chiếu với các danh mục thuốc bảo vệ thực vật và danh mục kiểm dịch, và xác định mã HS.
- Tiến hành khảo nghiệmThuê tổ chức khảo nghiệm được công nhận tại Việt Nam thực hiện khảo nghiệm giống, khảo nghiệm phân bón hoặc khảo nghiệm hiệu lực sinh học thuốc bảo vệ thực vật (theo giấy phép khảo nghiệm).
- Đăng ký và bảo hộNộp hồ sơ công nhận lưu hành, tự công bố lưu hành, công nhận phân bón lưu hành hoặc đăng ký thuốc bảo vệ thực vật tại Cục, và nộp đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng trước khi hết thời hạn bảo đảm tính mới.
- Bảo đảm nguồn cungĐối với hạt giống và vật liệu nhân giống, xác nhận rằng đã có kết quả phân tích nguy cơ dịch hại đối với xuất xứ đó và xin giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu; xin giấy phép nhập khẩu phân bón hoặc thuốc bảo vệ thực vật (nếu có) tại cấp tỉnh.
- Sản xuất hoặc gia công tại Việt NamNhà máy tại Việt Nam phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp; nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải nằm trong khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp.
- Phân phối tuân thủ quy địnhSử dụng nhà phân phối đáp ứng điều kiện buôn bán, ghi nhãn bằng tiếng Việt, lưu giữ thông tin truy xuất nguồn gốc lô hàng và theo dõi lịch gia hạn của mọi giấy phép.
Ví dụ minh họa
Ra mắt dòng sản phẩm hạt giống rau và chất kích thích sinh học
Một tập đoàn vật tư nông nghiệp của Hà Lan dự định bán hạt giống rau lai và một loại phân bón lá chiết xuất từ rong biển tại Việt Nam, sau đó là một loại thuốc trừ bệnh sinh học. Thời gian và chi phí là giả định mang tính minh họa, không phải báo giá.
| Tháng thứ 0 | Văn phòng đại diện được cấp phép; song song đó, một công ty thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập để nhập khẩu và phân phối, có giấy phép kinh doanh cần thiết cho hoạt động phân phối. |
|---|---|
| Hạt giống | Giả định, như luật sư tại Việt Nam xác nhận, cà chua, ớt và dưa chuột không thuộc danh mục loài cây trồng chính, thì mỗi giống được tự công bố lưu hành và được đăng tải trong thời hạn năm ngày làm việc; các lô hạt giống được nhập khẩu kèm giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật, và đối với vật liệu nhân giống thuộc danh mục phải phân tích nguy cơ dịch hại, cần kiểm tra xem đã có kết quả phân tích đối với xuất xứ Hà Lan hay chưa. |
| Bảo hộ | Ba giống chủ lực được nộp đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng trong thời hạn một năm kể từ lần bán đầu tiên tại Việt Nam để bảo đảm tính mới; thời hạn bảo hộ sẽ là 20 năm kể từ ngày cấp bằng. |
| Phân bón | Sản phẩm phân bón lá đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng; khảo nghiệm trong hai vụ; hồ sơ công nhận lưu hành được nộp vào tháng thứ 10 và được quyết định trong thời hạn thẩm định ba tháng; có hiệu lực năm năm. |
| Thuốc trừ bệnh | Khảo nghiệm hiệu lực sinh học theo giấy phép khảo nghiệm từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 18; hồ sơ đăng ký được nộp vào tháng thứ 19; thẩm định trong thời hạn bốn tháng; được bổ sung vào danh mục được phép sử dụng bằng thông tư sửa đổi; chỉ định tổ chức nhập khẩu theo ủy quyền của tổ chức đăng ký. |
| Ngân sách (minh họa) | Khảo nghiệm và đăng ký cho toàn bộ dòng sản phẩm: 150.000 đến 300.000 EUR trong hai năm; hỗ trợ pháp lý và thủ tục hành chính tại Việt Nam: 40.000 đến 90.000 EUR. |
Nếu hạt giống là giống lúa hoặc giống ngô, thì phải được công nhận lưu hành sau khi khảo nghiệm độc lập trước khi bán ra.
Nếu tập đoàn muốn gia công thành phẩm thuốc trừ bệnh tại Việt Nam, nhà máy phải nằm trong khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp và có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp.
Câu hỏi nhà đầu tư thường gặp về vật tư trồng trọt
Công ty nước ngoài có thể đăng ký giống cây trồng hoặc phân bón mà không cần có công ty tại Việt Nam không?
Có, nếu công ty đó có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng hoặc phân bón tại Việt Nam, theo khoản 3 Điều 13 và khoản 3 Điều 36 Luật Trồng trọt. Việc đăng ký không trao quyền kinh doanh, do đó hoạt động nhập khẩu và phân phối sản phẩm vẫn đòi hỏi phải có công ty có giấy phép kinh doanh mà thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài phải có.
Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng có hiệu lực trong bao lâu?
Từ ngày 1/1/2026, quyết định công nhận lưu hành có hiệu lực 20 năm đối với cây hằng năm và 25 năm đối với cây lâu năm và được gia hạn, theo khoản 2 Điều 15 Luật Trồng trọt, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15. Quyết định được ban hành trước năm 2026 có hiệu lực trong cùng thời hạn kể từ ngày ban hành. Hồ sơ gia hạn được nộp trong thời hạn sáu tháng trước khi hết hiệu lực.
Đại lý phân bón có còn phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán không?
Không. Từ năm 2026, Điều 42 sửa đổi của Luật Trồng trọt chỉ yêu cầu có địa điểm kinh doanh hợp pháp, có địa chỉ rõ ràng và người bán hàng đã được tập huấn theo hướng dẫn của Bộ hoặc có trình độ trung cấp thuộc chuyên ngành phù hợp, và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận trước đây. Hoạt động sản xuất phân bón vẫn phải có giấy chứng nhận có hiệu lực năm năm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp.
Tôi có thể nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật chưa có tên trong danh mục được phép sử dụng không?
Chỉ được nhập khẩu cho các mục đích quy định tại khoản 2 Điều 67 Luật số 41/2013/QH13, chẳng hạn khảo nghiệm để đăng ký, nghiên cứu, tái xuất hoặc sản xuất để xuất khẩu theo hợp đồng, và phải có giấy phép nhập khẩu do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, được thẩm định trong thời hạn năm ngày làm việc và có hiệu lực tối đa 12 tháng. Thuốc đó không được bán hoặc sử dụng trong nước.
Vì sao việc nhập khẩu một loại quả hoặc hạt giống từ xuất xứ mới có thể mất nhiều năm?
Vì vật liệu nhân giống, quả tươi và củ khoai tây, khoai lang tươi thuộc danh mục phải phân tích nguy cơ dịch hại tại Thông tư số 14/2024/TT-BNNPTNT. Cơ quan trung ương phải phân tích nguy cơ dịch hại trên cơ sở thông tin do nước xuất khẩu cung cấp trước khi cho phép nhập khẩu, và chỉ sau đó giấy phép cho từng lô hàng mới được cấp.
Thuật ngữ thường gặp trong hồ sơ, tài liệu
| Tiếng Anh | Tiếng Việt | Giải nghĩa |
|---|---|---|
| Recognition of a variety for circulation | Công nhận lưu hành giống cây trồng | Quyết định cho phép một giống thuộc loài cây trồng chính được sản xuất và bán ra thị trường. |
| Self-declaration of a variety | Tự công bố lưu hành giống cây trồng | Bản công bố của chính tổ chức, cá nhân sản xuất đối với giống thuộc các loài cây trồng khác (Điều 17). |
| Plant variety protection certificate | Bằng bảo hộ giống cây trồng | Văn bằng sở hữu trí tuệ trao độc quyền đối với giống cây trồng mới. |
| Recognition of fertiliser for circulation | Công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam | Quyết định có hiệu lực năm năm phải có trước khi phân bón được bán ra thị trường. |
| Certificate of eligibility to produce fertiliser | Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón | Giấy phép sản xuất có hiệu lực năm năm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp. |
| Pesticide registration certificate | Giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật | Việc đăng ký có hiệu lực năm năm gắn với danh mục được phép sử dụng. |
| List of pesticides permitted for use | Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam | Danh mục do Bộ trưởng ban hành; hiện nay là danh mục ban hành kèm theo Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT, đã được sửa đổi, bổ sung. |
| Plant quarantine import permit | Giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu | Giấy phép đối với vật thể thuộc danh mục phải phân tích nguy cơ dịch hại. |
| Pest risk analysis | Phân tích nguy cơ dịch hại | Việc đánh giá bắt buộc trước khi vật thể thuộc danh mục phải phân tích nguy cơ dịch hại được nhập khẩu lần đầu (Điều 27). |
| Gene-edited organism | Sinh vật chỉnh sửa gen | Sinh vật bị biến đổi bằng công nghệ gen mà không chứa vật chất di truyền ngoại lai hoặc tổng hợp. |
Nội dung liên quan trong cẩm nang
Câu hỏi thường gặp liên quan (tiếng Anh)
Nguồn chính thức
- Công báo: Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường (Điều 2, Điều 4, Điều 15 và Điều 17: Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Đa dạng sinh học, Trồng trọt)
- Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14, nội dung các điều (Điều 13 đến Điều 17, Điều 22, 28, 29, 36, 37, 41, 44, 45), hethongphapluat.com (nguồn văn bản thứ cấp)
- Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13, nội dung các điều (Điều 26 đến Điều 33, Điều 50, 51, 61, 63, 66, 67), hethongphapluat.com
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Nghị định số 33/2026/NĐ-CP về điều kiện sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật
- Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT ngày 23/1/2026 (bản tiếng Anh, LuatVietnam)
- Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật: Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT về danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và cấm sử dụng
- Thông tư số 28/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT (LuatVietnam)
- Thông tư số 14/2024/TT-BNNPTNT về danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật và danh mục phải phân tích nguy cơ dịch hại (caselaw.vn)
- Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật: đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ giống cây trồng
- Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, các điều về giống cây trồng (Điều 157 đến Điều 159, Điều 164, 169, 186, 190), hethongphapluat.com
Bạn có câu hỏi về trường hợp cụ thể của mình?
Hãy hỏi Lawbot, chatbot AI cung cấp thông tin pháp lý của Be Vietnam Wise. Lawbot đối chiếu các nguồn chính thức của Việt Nam và chỉ dẫn đến văn bản pháp luật điều chỉnh. Nếu bạn cần hỗ trợ cho dự án hiện tại hoặc có câu hỏi về kinh doanh tại Việt Nam, vui lòng liên hệ với chúng tôi.
Hỏi Lawbot về nội dung nàyMở trong ứng dụngLiên hệ với chúng tôiTrang này cung cấp thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý. Thuế suất, ngưỡng và thủ tục có thể thay đổi; nội dung được rà soát theo các nguồn chính thức, nhưng trước khi hành động, bạn nên xác nhận mọi vấn đề quan trọng với cơ quan có thẩm quyền hoặc với luật sư được phép hành nghề tại Việt Nam. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Anh; nếu có khác biệt, văn bản pháp luật gốc bằng tiếng Việt là căn cứ duy nhất có giá trị pháp lý.