Be Vietnam WiseKinh doanh tại Việt Nam

Chương 9 · Mục 9.5/8

Hòa giải và thương lượng: giải quyết tranh chấp bằng thỏa thuận, hòa giải thương mại theo Nghị định số 22/2017, Trung tâm Hòa giải Việt Nam, hòa giải, đối thoại tại Tòa án, bảo đảm khả năng thi hành của thỏa thuận hòa giải thành, Công ước Singapore, và hòa giải lao động, hành chính

Rà soát ngày · Biên soạn bởi một luật sư chuyên về đầu tư nước ngoài (đã nghỉ hưu) với 20 năm kinh nghiệm hành nghề trong lĩnh vực pháp luật đầu tư Việt Nam · Thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý · Cách chúng tôi kiểm tra (tiếng Anh) · Mở trong ứng dụng

Read in EnglishTải chương 9 (PDF)

Những điểm cần nắm

Vì sao phần lớn tranh chấp kết thúc bằng thỏa thuận

Phần lớn tranh chấp kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết bằng thỏa thuận, không phải bằng phán quyết hay bản án. Lý do mang tính thực tiễn: tố tụng tại Tòa án chậm và công khai, trọng tài tốn kém, việc thi hành đối với bên nợ thiếu thiện chí không chắc chắn, và trong một thị trường mà quan hệ với đối tác, nhà cung cấp và chính quyền cấp tỉnh có vai trò quan trọng, một tranh chấp bị theo đuổi đến cùng có thể gây tổn thất lớn hơn số tiền tranh chấp. Pháp luật Việt Nam khuyến khích giải quyết bằng thỏa thuận ở mọi giai đoạn. Điều 13 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định tranh chấp đầu tư trước hết được giải quyết thông qua thương lượng và hòa giải (Câu hỏi 78); Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu Thẩm phán tiến hành hòa giải trước khi đưa phần lớn vụ án kinh doanh, thương mại ra xét xử; Luật Trọng tài thương mại cho phép Hội đồng trọng tài hòa giải theo yêu cầu của các bên; và Bộ luật Lao động quy định hòa giải là bắt buộc đối với phần lớn tranh chấp lao động cá nhân.

Vì vậy, giải quyết bằng thỏa thuận là một chiến lược cần được hoạch định, không phải dấu hiệu của sự yếu thế. Các câu hỏi đặt ra là cơ quan tài phán nào mang lại lợi thế lớn nhất khi thương lượng, làm thế nào để các cuộc thảo luận về giải quyết tranh chấp không làm tổn hại vị thế pháp lý nếu không thành, và làm thế nào để thỏa thuận có thể được thi hành nếu bên kia không thực hiện. Mục này xem xét từng vấn đề, cùng các phương thức hòa giải chính thức mà pháp luật Việt Nam quy định.

Thương lượng an toàn

Pháp luật Việt Nam không có đặc quyền chung "không ảnh hưởng đến quyền" (without prejudice) như trong hệ thống thông luật. Lời thừa nhận hoặc đề nghị đưa ra trong thư từ trao đổi có thể được xuất trình tại Tòa án hoặc trọng tài, trừ khi các bên có thỏa thuận khác hoặc một luật cụ thể bảo vệ. Do đó, các cuộc thảo luận về giải quyết tranh chấp nên được tiến hành theo một thỏa thuận bảo mật bằng văn bản quy định rằng các đề nghị, lời thừa nhận và tài liệu trao đổi nhằm giải quyết tranh chấp không được sử dụng làm chứng cứ, hoặc trong khuôn khổ một thủ tục hòa giải chính thức có quy tắc bảo đảm sự bảo vệ đó. Luật số 58/2020/QH14 quy định sự bảo vệ theo luật định đối với hòa giải tại Tòa án (Điều 4), và Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định bảo mật là một nguyên tắc của hòa giải thương mại; ngoài các khuôn khổ đó, sự bảo vệ dựa trên hợp đồng.

Thời hiệu vẫn tiếp tục được tính. Thời hiệu khởi kiện hai năm đối với tranh chấp thương mại theo Điều 319 Luật Thương mại không bị tạm ngừng bởi việc thương lượng, mặc dù việc bên có nghĩa vụ thừa nhận nợ, trả một phần nợ hoặc thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ làm thời hiệu bắt đầu lại theo Điều 157 Bộ luật Dân sự. Bên có quyền đang thương lượng khi thời hiệu sắp hết nên có được văn bản thừa nhận nợ, thỏa thuận bằng văn bản về việc tạm hoãn khởi kiện, hoặc khởi kiện và thương lượng song song. Bản thân thỏa thuận giải quyết tranh chấp phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền ký của cả hai bên, và ghi rõ số tiền, thời hạn, việc từ bỏ yêu cầu, hậu quả của việc vi phạm và cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận.

Hòa giải thương mại theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP

Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại, có hiệu lực từ ngày 15/4/2017, điều chỉnh việc hòa giải tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp mà ít nhất một bên có hoạt động thương mại, và các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại. Việc hòa giải có thể do hòa giải viên thương mại có tên trong danh sách cấp tỉnh, được các bên lựa chọn theo vụ việc, hoặc do trung tâm hòa giải thương mại thực hiện theo quy tắc của trung tâm. Hòa giải viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại Nghị định, bao gồm có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học và kinh nghiệm chuyên môn, và hòa giải viên nước ngoài cũng có thể tham gia. Quá trình hòa giải mang tính tự nguyện, bảo mật và linh hoạt: các bên lựa chọn hòa giải viên và thủ tục, mỗi bên có thể rút lui bất cứ lúc nào, và hòa giải viên đề xuất nhưng không thể áp đặt phương án giải quyết.

Nghị định số 112/2025/NĐ-CP ngày 29/5/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, cùng một số nghị định khác về bổ trợ tư pháp, theo đó hồ sơ đề nghị thành lập trung tâm hòa giải thương mại được nộp tại Sở Tư pháp cấp tỉnh, cơ quan này thẩm định trong thời hạn 15 ngày, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định trong thời hạn năm ngày làm việc, thay vì Bộ Tư pháp. Tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài có thể thành lập chi nhánh và văn phòng đại diện tại Việt Nam theo cùng khuôn khổ này.

Tổ chức hàng đầu dành cho nhà đầu tư nước ngoài là Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) trực thuộc VIAC, cung cấp quy tắc hòa giải, danh sách hòa giải viên Việt Nam và nước ngoài, điều khoản hòa giải mẫu và khả năng chuyển sang trọng tài VIAC nếu hòa giải không thành. Các trung tâm hòa giải khác cũng hoạt động tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Phí hòa giải được ấn định theo biểu phí của từng trung tâm và ở mức khiêm tốn so với trọng tài.

Bảo đảm khả năng thi hành của thỏa thuận hòa giải thành

Thỏa thuận đạt được trong hòa giải thương mại được ghi nhận trong văn bản kết quả hòa giải thành. Bản thân văn bản này là một hợp đồng: nếu một bên không thực hiện, bên kia phải khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài trên cơ sở văn bản đó. Để văn bản có thể được thi hành trực tiếp, một bên có thể yêu cầu Tòa án công nhận theo các Điều từ 416 đến 419 Bộ luật Tố tụng dân sự, áp dụng đối với kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành, bao gồm hòa giải thương mại (Câu hỏi 78). Đơn yêu cầu được nộp tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày đạt được thỏa thuận. Tòa án kiểm tra các điều kiện tại Điều 417: các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận; nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc bên thứ ba; và các bên thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện. Tòa án không xem xét lại tranh chấp. Quyết định công nhận có hiệu lực pháp luật ngay và được cơ quan thi hành án dân sự thi hành như bản án (Công nhận, thi hành bản án và thi hành án dân sự).

Khi các bên có thỏa thuận trọng tài, có thêm một phương thức thứ hai. Nếu các bên đạt được thỏa thuận trong quá trình tố tụng trọng tài, Hội đồng trọng tài có thể, theo yêu cầu của các bên, ghi nhận thỏa thuận đó trong quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên, là quyết định chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài (Điều 58 Luật Trọng tài thương mại). Các bên đạt được thỏa thuận qua hòa giải trước khi bắt đầu tố tụng trọng tài đôi khi khởi kiện ra trọng tài chỉ nhằm có được quyết định như vậy. Phương thức này hiệu quả nhất khi thỏa thuận trọng tài chọn VIAC, vì hòa giải tại VMC và trọng tài tại VIAC được quản lý thống nhất.

Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 và được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15, quy định phương thức thứ ba. Khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án thông báo cho các bên về quyền được hòa giải trước khi thụ lý vụ án, và nếu cả hai bên đồng ý, Tòa án chỉ định một hòa giải viên trong danh sách của Tòa án, thường là thẩm phán đã nghỉ hưu hoặc luật sư giàu kinh nghiệm. Việc hòa giải phải được hoàn thành trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày chỉ định hòa giải viên, có thể gia hạn nhưng không quá 30 ngày đối với vụ việc phức tạp, và các bên có thể thỏa thuận thời hạn dài hơn nhưng không quá hai tháng (Điều 20). Thông tin được tiết lộ trong quá trình hòa giải được bảo mật và không được sử dụng làm chứng cứ, trừ khi bên tiết lộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 4). Thời gian hòa giải thông thường không tính vào thời hiệu khởi kiện nếu vụ việc sau đó được giải quyết theo thủ tục tố tụng (Điều 16).

Nếu các bên đạt được thỏa thuận, hòa giải viên chuyển biên bản cho Tòa án, Thẩm phán có 15 ngày để xem xét, và Tòa án ra quyết định công nhận hoặc không công nhận thỏa thuận (Điều 32 và Điều 33); quyết định công nhận được thi hành như bản án. Nếu hòa giải không thành, vụ việc được giải quyết theo thủ tục thông thường. Chi phí hòa giải tại Tòa án thông thường do ngân sách nhà nước bảo đảm, nhưng các bên trong tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá ngạch tự chịu chi phí hòa giải, cũng như các bên yêu cầu tổ chức phiên hòa giải ngoài trụ sở Tòa án hoặc cần phiên dịch (Điều 9). Đối với vụ việc hành chính, Luật này quy định thủ tục đối thoại giữa người khởi kiện và cơ quan có quyết định bị khiếu kiện.

Công ước Singapore và thỏa thuận hòa giải thành xuyên biên giới

Công ước của Liên hợp quốc năm 2018 về thỏa thuận giải quyết tranh chấp quốc tế đạt được thông qua hòa giải, Công ước Singapore, cho phép thỏa thuận thương mại đạt được qua hòa giải quốc tế được thi hành trực tiếp tại bất kỳ quốc gia thành viên nào, tương tự như Công ước New York đối với phán quyết trọng tài. Tính đến tháng 10/2026, bảng tình trạng thành viên của UNCITRAL ghi nhận 24 thành viên, nhưng Việt Nam chưa ký kết và chưa là thành viên. Do đó, thỏa thuận đạt được trong hòa giải quốc tế tại Singapore hoặc nơi khác không được thi hành trực tiếp tại Việt Nam theo Công ước này.

Vẫn còn ba phương án thay thế. Có thể khởi kiện dựa trên thỏa thuận như một hợp đồng tại cơ quan tài phán được chọn trong thỏa thuận; có thể chuyển thỏa thuận thành phán quyết ghi nhận sự thỏa thuận của các bên do Hội đồng trọng tài ban hành, sau đó được thi hành tại Việt Nam như phán quyết của Trọng tài Việt Nam hoặc, nếu có địa điểm giải quyết tranh chấp ở nước ngoài, theo Công ước New York sau khi được công nhận, mặc dù việc Tòa án Việt Nam có coi phán quyết ghi nhận các điều khoản đã thỏa thuận được tuyên ở nước ngoài là phán quyết theo Công ước hay không vẫn chưa được xác định rõ; hoặc, khi việc hòa giải diễn ra tại Việt Nam với hòa giải viên có thẩm quyền, các bên có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận theo các Điều từ 416 đến 419. Nhà đầu tư thương lượng giải quyết tranh chấp với một bên Việt Nam nên quyết định sẽ sử dụng phương thức nào trước khi ký thỏa thuận, và soạn thảo thỏa thuận cho phù hợp.

Tranh chấp lao động và hành chính

Tranh chấp lao động cá nhân được giải quyết theo cơ chế riêng của Bộ luật Lao động (Luật số 45/2019/QH14): hòa giải thông qua hòa giải viên lao động do cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh cử là bước bắt buộc đầu tiên, được hoàn thành trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ các tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, các khoản thanh toán khi chấm dứt hợp đồng, bảo hiểm và một số tranh chấp khác, có thể được đưa thẳng ra Tòa án; sau khi hòa giải không thành, các bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết (các Điều từ 187 đến 190). Tranh chấp lao động tập thể tuân theo thủ tục riêng. Các quy định này và thời hiệu tương ứng được giải thích tại mục Nội quy lao động, công đoàn và tranh chấp lao động.

Tranh chấp với cơ quan nhà nước về quyết định ấn định thuế, quyết định về đất đai hoặc giấy phép được giải quyết bằng khiếu nại hành chính đến cơ quan ban hành và cơ quan cấp trên, sau đó tại Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính, nơi có thể tiến hành đối thoại theo Luật số 58/2020/QH14 (Quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra và tranh chấp về thuế; Tòa án của VIFC và các cơ quan tài phán chuyên biệt). Tranh chấp đầu tư với Nhà nước bắt đầu bằng thương lượng và hòa giải theo yêu cầu của Điều 13 và, theo phần lớn các điều ước đầu tư, một thời hạn tham vấn, thương lượng kéo dài vài tháng (Tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước và khiếu kiện theo điều ước).

Tiến hành hòa giải thương mại tại VMC và bảo đảm khả năng thi hành của kết quả

  1. Bảo vệ vị thế pháp lý trước tiênTheo dõi thời hiệu khởi kiện, có được văn bản thừa nhận nợ hoặc thỏa thuận tạm hoãn khởi kiện, và ký thỏa thuận bảo mật đối với các trao đổi nhằm giải quyết tranh chấp.
  2. Thỏa thuận hòa giảiViện dẫn bước hòa giải trong hợp đồng, hoặc ký thỏa thuận đưa tranh chấp ra VMC giải quyết theo quy tắc của Trung tâm.
  3. Chỉ định hòa giải viênThỏa thuận lựa chọn một hòa giải viên trong danh sách của VMC hoặc một hòa giải viên thương mại đã đăng ký, có kinh nghiệm về ngôn ngữ và lĩnh vực liên quan; Trung tâm chỉ định nếu các bên không thỏa thuận được.
  4. Trao đổi bản trình bày quan điểmBản trình bày ngắn gọn về tranh chấp và các tài liệu chính, được gửi cho hòa giải viên và, nếu có thỏa thuận, cho bên kia.
  5. Các phiên hòa giảiPhiên chung và phiên riêng, trực tiếp hoặc trực tuyến; người có thẩm quyền quyết định việc giải quyết tranh chấp tham dự.
  6. Ghi nhận thỏa thuậnKý văn bản kết quả hòa giải thành ghi rõ số tiền, thời hạn, việc từ bỏ yêu cầu, hậu quả của việc vi phạm và cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận.
  7. Yêu cầu Tòa án công nhậnNộp đơn tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền trong thời hạn sáu tháng theo các Điều từ 416 đến 419 Bộ luật Tố tụng dân sự, hoặc, nếu đang có tố tụng trọng tài, đề nghị Hội đồng trọng tài ra quyết định công nhận sự thỏa thuận theo Điều 58 Luật Trọng tài thương mại.

So sánh các phương thức hòa giải (tháng 10/2026)

Phương thứcCăn cứ pháp lýThời gian và chi phíCách thức thi hành kết quả
Thỏa thuận đạt được qua thương lượngBộ luật Dân sự; Luật Thương mạiTheo thỏa thuận; không mất phíKhởi kiện dựa trên thỏa thuận như một hợp đồng
Hòa giải thương mại (VMC hoặc trung tâm khác, hoặc hòa giải viên vụ việc)Nghị định số 22/2017/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CPTheo thỏa thuận và quy tắc của trung tâm; biểu phí của trung tâmTòa án công nhận trong thời hạn 6 tháng (Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều từ 416 đến 419); sau đó thi hành
Thỏa thuận trong quá trình tố tụng trọng tàiĐiều 58 Luật số 54/2010/QH12Trong lịch trình tố tụng trọng tàiQuyết định công nhận sự thỏa thuận, có giá trị như phán quyết trọng tài
Hòa giải, đối thoại tại Tòa ánLuật số 58/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH1520 ngày, có thể gia hạn đến 30 ngày, hoặc tối đa 2 tháng theo thỏa thuận; các bên chịu chi phí trong tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá ngạchQuyết định công nhận của Tòa án, được thi hành như bản án
Hòa giải trong quá trình tố tụng tại Tòa ánBộ luật Tố tụng dân sự, các Điều từ 205 đến 213Trong thời hạn chuẩn bị xét xửQuyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, có hiệu lực pháp luật ngay
Hòa giải tranh chấp lao động cá nhânBộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Điều 1885 ngày làm việcBiên bản hòa giải thành; Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án nếu không được thực hiện
Hòa giải quốc tếCông ước Singapore (Việt Nam chưa là thành viên)Theo thỏa thuậnKhông được thi hành trực tiếp tại Việt Nam; khởi kiện theo hợp đồng hoặc phán quyết ghi nhận sự thỏa thuận

Ví dụ minh họa

Hòa giải tranh chấp thanh toán xây dựng tại VMC

Một nhà thầu Việt Nam thuộc sở hữu của nhà đầu tư Singapore yêu cầu một chủ đầu tư Việt Nam thanh toán 18 tỷ đồng tiền thanh toán theo tiến độ và phát sinh chưa được trả đối với dự án nhà máy tại Bình Dương (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh); chủ đầu tư yêu cầu phản tố về tiền phạt chậm tiến độ. Hợp đồng quy định 30 ngày thương lượng, sau đó hòa giải tại VMC, rồi đến trọng tài VIAC tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các mốc thời gian và số liệu mang tính minh họa.

Tháng 3/2026Nhà thầu gửi thông báo tranh chấp; lãnh đạo cấp cao hai bên gặp nhau hai lần theo một thỏa thuận bảo mật loại trừ việc sử dụng các trao đổi nhằm giải quyết tranh chấp làm chứng cứ. Chủ đầu tư ký văn bản thừa nhận khoản thanh toán 9 tỷ đồng đã được xác nhận, làm thời hiệu khởi kiện đối với khoản tiền này bắt đầu lại.
Tháng 4/2026Hết thời hạn thương lượng; nhà thầu đưa tranh chấp ra VMC. Các bên thỏa thuận chọn một hòa giải viên có kinh nghiệm về xây dựng, sử dụng được tiếng Anh và tiếng Việt.
Tháng 5/2026Trao đổi bản trình bày quan điểm; một phiên hòa giải kéo dài cả ngày tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự tham dự của tổng giám đốc chủ đầu tư và giám đốc khu vực của nhà thầu.
Kết quảThỏa thuận ở mức 14,5 tỷ đồng, thanh toán thành ba đợt trong bốn tháng; miễn tiền phạt chậm tiến độ; các bên cùng từ bỏ yêu cầu; giữ nguyên trọng tài VIAC đối với tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận.
Tháng 6/2026Nhà thầu yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền công nhận văn bản kết quả hòa giải thành theo các Điều từ 416 đến 419 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án ra quyết định công nhận.
Tháng 9/2026Chủ đầu tư không thanh toán đợt thứ ba; nhà thầu yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành quyết định công nhận thay vì khởi kiện ra trọng tài.

Chi phí hòa giải, bao gồm phí của trung tâm và thù lao hòa giải viên do hai bên chia đều, chỉ bằng một phần nhỏ so với chi phí của một vụ trọng tài tại VIAC.

Nếu không có quyết định công nhận của Tòa án, biện pháp khắc phục của nhà thầu đối với đợt thanh toán bị chậm sẽ là khởi kiện ra trọng tài VIAC dựa trên thỏa thuận giải quyết tranh chấp.

Câu hỏi nhà đầu tư thường gặp về hòa giải

Thỏa thuận hòa giải thành có được thi hành tại Việt Nam không?

Không đương nhiên. Thỏa thuận hòa giải thành là một hợp đồng, nhưng một bên có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong thời hạn sáu tháng theo các Điều từ 416 đến 419 Bộ luật Tố tụng dân sự, sau đó thỏa thuận được thi hành như bản án. Trong tố tụng trọng tài, Hội đồng trọng tài có thể ghi nhận thỏa thuận trong một quyết định có giá trị như phán quyết trọng tài.

Việt Nam đã tham gia Công ước Singapore về hòa giải chưa?

Chưa. Tính đến tháng 10/2026, Việt Nam chưa ký kết và chưa là thành viên Công ước Singapore năm 2018, công ước có 24 thành viên. Do đó, thỏa thuận hòa giải thành quốc tế phải được thi hành như một hợp đồng, được chuyển thành phán quyết ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, hoặc, nếu việc hòa giải diễn ra tại Việt Nam, được Tòa án Việt Nam công nhận.

Trung tâm Hòa giải Việt Nam là gì?

Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) là trung tâm hòa giải thương mại trực thuộc VIAC. Trung tâm tổ chức hòa giải theo quy tắc riêng và Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, có các hòa giải viên Việt Nam và nước ngoài, và cho phép chuyển tiếp thuận lợi sang trọng tài VIAC nếu hòa giải không thành, do đó thường được lựa chọn trong các điều khoản giải quyết tranh chấp nhiều bước.

Các cuộc thảo luận về giải quyết tranh chấp có được bảo mật tại Việt Nam không?

Chỉ khi được bảo vệ. Pháp luật Việt Nam không có quy tắc chung "không ảnh hưởng đến quyền" (without prejudice). Hòa giải tại Tòa án được bảo mật theo Điều 4 Luật số 58/2020/QH14 và hòa giải thương mại được bảo mật theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP; các cuộc thương lượng khác nên được điều chỉnh bằng một thỏa thuận bằng văn bản loại trừ việc sử dụng các trao đổi nhằm giải quyết tranh chấp làm chứng cứ.

Việc thương lượng có làm ngừng tính thời hiệu khởi kiện không?

Không. Thời hiệu hai năm đối với tranh chấp thương mại theo Điều 319 Luật Thương mại vẫn tiếp tục được tính, nhưng văn bản thừa nhận nợ, việc trả một phần nợ hoặc thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ làm thời hiệu bắt đầu lại theo Điều 157 Bộ luật Dân sự. Thời gian hòa giải tại Tòa án thông thường không được tính nếu vụ việc sau đó được giải quyết theo thủ tục tố tụng.

Thuật ngữ thường gặp trong hồ sơ, tài liệu

Tiếng AnhTiếng ViệtGiải nghĩa
NegotiationThương lượngCác cuộc thảo luận trực tiếp giữa các bên nhằm giải quyết tranh chấp.
Commercial mediationHòa giải thương mạiHòa giải theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP.
Commercial mediatorHòa giải viên thương mạiHòa giải viên đáp ứng các tiêu chuẩn của Nghị định, đã đăng ký hoặc thuộc một trung tâm.
Commercial mediation centreTrung tâm hòa giải thương mạiTổ chức được cấp phép quản lý hoạt động hòa giải, chẳng hạn VMC.
Record of successful mediationVăn bản kết quả hòa giải thànhVăn bản thỏa thuận được ký kết khi kết thúc quá trình hòa giải.
Recognition of out-of-court mediationCông nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa ánThủ tục tại Tòa án theo các Điều từ 416 đến 419 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Mediation and dialogue at courtHòa giải, đối thoại tại Tòa ánThủ tục trước khi thụ lý theo Luật số 58/2020/QH14.
Labour mediatorHòa giải viên lao độngHòa giải viên chính thức đối với tranh chấp lao động theo Bộ luật Lao động.
Mục tiếp theo · 9.6Thi hành bản án và thi hành án dân sựNhững gì diễn ra sau khi có bản án hoặc phán quyết: ai thi hành, các thời hạn, cách tìm và kê biên tài sản, khi nào bản án của Tòa án nước ngoài có thể được thi hành, và vì sao biện pháp bảo đảm được thiết lập ngay từ đầu quan trọng hơn bất kỳ cơ quan tài phán nào.Đọc tiếp →

Nội dung liên quan trong cẩm nang

Câu hỏi thường gặp liên quan (tiếng Anh)

Nguồn chính thức

Bạn có câu hỏi về trường hợp cụ thể của mình?

Hãy hỏi Lawbot, chatbot AI cung cấp thông tin pháp lý của Be Vietnam Wise. Lawbot đối chiếu các nguồn chính thức của Việt Nam và chỉ dẫn đến văn bản pháp luật điều chỉnh. Nếu bạn cần hỗ trợ cho dự án hiện tại hoặc có câu hỏi về kinh doanh tại Việt Nam, vui lòng liên hệ với chúng tôi.

Hỏi Lawbot về nội dung nàyMở trong ứng dụngLiên hệ với chúng tôi

Trang này cung cấp thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý. Thuế suất, ngưỡng và thủ tục có thể thay đổi; nội dung được rà soát theo các nguồn chính thức, nhưng trước khi hành động, bạn nên xác nhận mọi vấn đề quan trọng với cơ quan có thẩm quyền hoặc với luật sư được phép hành nghề tại Việt Nam. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Anh; nếu có khác biệt, văn bản pháp luật gốc bằng tiếng Việt là căn cứ duy nhất có giá trị pháp lý.