Chương 6 · Mục 6.6/8
Đồng tiền và thanh toán trong lãnh thổ Việt Nam: nguyên tắc chỉ sử dụng đồng Việt Nam và các ngoại lệ, chào giá và quảng cáo, trả lương bằng ngoại tệ, xử phạt, quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, tỷ giá và doanh nghiệp chế xuất
Những điểm cần nắm
- Theo Pháp lệnh Ngoại hối và Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, được sửa đổi, bổ sung gần đây nhất bởi Thông tư số 75/2025/TT-NHNN, người cư trú không được thực hiện giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá hoặc ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ trong lãnh thổ Việt Nam, trừ khi thuộc một trường hợp ngoại lệ được liệt kê.
- Các ngoại lệ bao gồm giao dịch với người không cư trú, hoạt động mua bán của doanh nghiệp chế xuất, chi phí ở nước ngoài của nhà thầu trúng thầu theo hình thức đấu thầu quốc tế, hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế và kho ngoại quan, và tiền lương trả bằng ngoại tệ cho người lao động là người không cư trú và người nước ngoài là người cư trú (Điều 4).
- Hành vi vi phạm bị phạt tiền theo Nghị định số 340/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 09/02/2026, trong đó tổ chức bị phạt gấp hai lần mức phạt đối với cá nhân, và điều khoản giá bằng ngoại tệ giữa các người cư trú có nguy cơ không thể thực thi.
- Thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ 5 triệu đồng trở lên chỉ được khấu trừ khi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo Luật số 48/2024/QH15, và Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP áp dụng cùng ngưỡng 5 triệu đồng đối với chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
- Giao dịch tiền mặt từ 400 triệu đồng trở lên phải được báo cáo theo Quyết định số 11/2023/QĐ-TTg, và các ngân hàng giao dịch đô la Mỹ trong biên độ cộng hoặc trừ 5% so với tỷ giá trung tâm hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước.
Nguyên tắc chung
Pháp lệnh Ngoại hối cấm sử dụng ngoại hối trong lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp được Ngân hàng Nhà nước cho phép, và Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, đã được sửa đổi, bổ sung, cụ thể hóa nguyên tắc đó thành một quy định chi tiết. Điều 3 của thông tư quy định rằng, trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác, bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận, không được thực hiện bằng ngoại tệ, trừ các trường hợp được liệt kê tại Điều 4. Quy định này áp dụng đối với người cư trú, và mọi doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam đều là người cư trú, bất kể tỷ lệ sở hữu nước ngoài (Khung pháp lý quản lý ngoại hối).
Phạm vi rộng của quy định khiến nhiều nhà đầu tư bất ngờ. Quy định không chỉ giới hạn ở việc thanh toán: báo giá, bảng giá, quảng cáo trên trang web hoặc giá dự thầu bằng đô la Mỹ đều thuộc phạm vi điều chỉnh ngay cả khi việc thanh toán sẽ được thực hiện bằng đồng Việt Nam. Quy định cũng không chỉ giới hạn ở bản thân mức giá: thông tư còn điều chỉnh cả các điều khoản quy đổi hoặc điều chỉnh giá bằng đồng Việt Nam theo một loại ngoại tệ, điều này đặt thực tiễn phổ biến là ấn định giá bằng đồng Việt Nam thả nổi theo tỷ giá đô la trước rủi ro. Thực tiễn và các phán quyết của tòa án về các điều khoản gắn với tỷ giá như vậy chưa thống nhất, và các lưu ý khi soạn thảo hợp đồng được trình bày tại mục Hợp đồng thương mại tại Việt Nam; cách làm thận trọng là ấn định giá bằng đồng Việt Nam và thỏa thuận cơ chế xem xét lại giá định kỳ thay vì tự động gắn với tỷ giá.
Các ngoại lệ có ý nghĩa thực tiễn
Điều 4 của thông tư liệt kê các trường hợp được phép. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các trường hợp quan trọng là như sau. Giao dịch với người không cư trú: người không cư trú được định giá và thanh toán bằng ngoại tệ đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cho mình, và người cư trú cung cấp được báo giá, định giá và nhận ngoại tệ; đây là cơ sở cho phép công ty con tại Việt Nam lập hóa đơn bằng đô la cho công ty mẹ ở nước ngoài hoặc cho khách hàng nước ngoài. Doanh nghiệp chế xuất: doanh nghiệp chế xuất (DNCX) được định giá và thanh toán bằng ngoại tệ, thông qua chuyển khoản, đối với hàng hóa mua từ thị trường nội địa để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, và bên cung cấp trong nước được báo giá và nhận ngoại tệ; các doanh nghiệp chế xuất cũng được giao dịch với nhau bằng ngoại tệ. Nhà thầu trúng thầu theo hình thức đấu thầu quốc tế được chào thầu bằng ngoại tệ đối với các chi phí ở nước ngoài và nhận chuyển khoản cho các chi phí đó. Đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu, xuất khẩu được sử dụng ngoại tệ với bên ủy thác.
Các ngoại lệ khác bao gồm cửa hàng miễn thuế và kho ngoại quan; đại lý của hãng vận tải nước ngoài, được báo giá cước vận tải quốc tế bằng ngoại tệ nhưng phải được thanh toán bằng đồng Việt Nam; doanh nghiệp bảo hiểm đối với rủi ro tái bảo hiểm; doanh nghiệp vận tải hàng không, khách sạn và du lịch, được niêm yết giá bằng đồng Việt Nam kèm giá tương đương bằng ngoại tệ trên trang web và ấn phẩm chuyên ngành bằng tiếng nước ngoài, nhưng không được niêm yết trên thực đơn hoặc bảng giá; và việc góp vốn bằng ngoại tệ của người cư trú cho dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài danh mục này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có thể chấp thuận từng trường hợp cụ thể khác. Giao dịch không thuộc một trường hợp ngoại lệ phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam.
Trả lương bằng ngoại tệ
Điều 4 của thông tư cho phép tổ chức thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp bằng ngoại tệ cho người lao động là người không cư trú và người lao động là người nước ngoài cư trú. Do đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể trả lương bằng đô la hoặc euro cho tổng giám đốc là người nước ngoài vào tài khoản ngoại tệ của người lao động; hình thức chuyển khoản là phổ biến. Người lao động Việt Nam phải được trả lương bằng đồng Việt Nam. Dù thanh toán bằng loại tiền nào, thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội (nếu áp dụng) và sổ sách kế toán của người sử dụng lao động đều được tính bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá quy định, vì vậy khi đồng Việt Nam mất giá, giá trị quy đổi sang đồng Việt Nam của khoản lương bằng ngoại tệ cho mục đích tính thuế sẽ tăng lên (Thuế thu nhập cá nhân và người lao động nước ngoài; Tiền lương, lương tối thiểu và bảng lương).
Hợp đồng thuê, giao dịch nội bộ tập đoàn và các cạm bẫy khác
Một số thỏa thuận có vẻ tự nhiên đối với tập đoàn nước ngoài lại không được phép. Hợp đồng thuê văn phòng hoặc nhà xưởng giữa chủ nhà Việt Nam và công ty con tại Việt Nam phải được định giá và thanh toán bằng đồng Việt Nam, mặc dù các nhà phát triển khu công nghiệp thường báo giá thuê theo các con số bằng đô la rồi lập hóa đơn bằng đồng Việt Nam; nhà đầu tư cần bảo đảm bản thân giá trong hợp đồng là một con số bằng đồng Việt Nam. Hai công ty con tại Việt Nam của cùng một tập đoàn phải giao dịch với nhau bằng đồng Việt Nam, kể cả khi công ty mẹ lập báo cáo bằng đô la. Nhà phân phối Việt Nam không được nhận hóa đơn bằng đô la từ công ty sản xuất tại Việt Nam của tập đoàn, mặc dù có thể nhận hóa đơn bằng đô la từ một công ty nước ngoài trong tập đoàn bán hàng trực tiếp từ nước ngoài. Và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được thanh toán bằng đô la cho nhà thầu Việt Nam từ tài khoản ngoại tệ, trừ khi nhà thầu là doanh nghiệp chế xuất hoặc thuộc một trường hợp ngoại lệ khác.
Hướng dẫn ra quyết định
Giao dịch này có được định giá và thanh toán bằng ngoại tệ không?
Bước kiểm tra sơ bộ theo Thông tư số 32/2013/TT-NHNN. Nếu còn băn khoăn, hãy định giá bằng đồng Việt Nam và hỏi ý kiến ngân hàng trước khi ký.
- Bên đối tác có phải là người không cư trú không (ví dụ một công ty nước ngoài không có pháp nhân Việt Nam tham gia giao dịch)?CóĐược phép sử dụng ngoại tệ đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cho bên đó và đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ bên đó; việc thanh toán được thực hiện qua ngân hàng được phép trên cơ sở chứng từ.KhôngChuyển sang câu hỏi 2.
- Có bên nào là doanh nghiệp chế xuất mua nguyên liệu đầu vào để sản xuất hàng xuất khẩu hoặc giao dịch với một doanh nghiệp chế xuất khác không?CóĐược phép sử dụng ngoại tệ, thông qua chuyển khoản.KhôngChuyển sang câu hỏi 3.
- Khoản thanh toán có phải là tiền lương, tiền thưởng hoặc phụ cấp trả cho người lao động là người không cư trú hoặc người nước ngoài cư trú theo hợp đồng lao động không?CóĐược phép sử dụng ngoại tệ.KhôngChuyển sang câu hỏi 4.
- Giao dịch có thuộc một trường hợp khác được liệt kê (chi phí ở nước ngoài theo đấu thầu quốc tế, hàng miễn thuế, kho ngoại quan, ủy thác xuất nhập khẩu, tái bảo hiểm, niêm yết giá trong ngành du lịch) hoặc được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận riêng không?CóĐược phép sử dụng ngoại tệ trong phạm vi của trường hợp đó.KhôngChỉ sử dụng đồng Việt Nam: báo giá, giá, hóa đơn và thanh toán đều phải bằng đồng Việt Nam, và mọi điều khoản điều chỉnh theo tỷ giá đều tiềm ẩn rủi ro.
Chế tài và hậu quả
Nghị định số 340/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 09/02/2026 và thay thế Nghị định số 88/2019/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 143/2021/NĐ-CP, quy định mức phạt hành chính đối với vi phạm về ngoại hối, bao gồm việc sử dụng ngoại tệ để niêm yết, quảng cáo, định giá hoặc thanh toán không đúng quy định. Tổ chức bị phạt gấp hai lần mức phạt quy định đối với cá nhân. Hệ quả thương mại có thể nghiêm trọng hơn khoản phạt: điều khoản giá bằng ngoại tệ giữa hai người cư trú có thể bị coi là vi phạm điều cấm của luật, khiến các bên phải tranh luận về mức giá được áp dụng, và cơ quan thuế có thể không chấp nhận hoặc xác định lại giao dịch. Về phần mình, các ngân hàng sẽ từ chối thực hiện khoản thanh toán bằng ngoại tệ giữa các người cư trú không thuộc trường hợp ngoại lệ.
Thanh toán bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt
Việt Nam đã chuyển mạnh mẽ sang thanh toán không dùng tiền mặt. Nghị định số 52/2024/NĐ-CP điều chỉnh dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, và các quy định về thuế hiện nay xử lý thanh toán bằng tiền mặt bằng cách không cho khấu trừ hoặc không cho tính vào chi phí được trừ. Theo Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ 5 triệu đồng trở lên, bao gồm cả thuế GTGT, chỉ được khấu trừ nếu doanh nghiệp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tiền mặt nộp vào tài khoản của bên bán không đáp ứng điều kiện, và nhiều lần mua của cùng một bên bán trong cùng một ngày được cộng gộp. Theo điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/12/2025, khoản chi từ 5 triệu đồng trở lên cho mỗi lần thanh toán chỉ được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nếu có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Trên thực tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên thanh toán cho mọi nhà cung cấp bằng chuyển khoản và chỉ sử dụng tiền mặt cho các khoản chi lặt vặt.
Các giao dịch tiền mặt lớn cũng được giám sát. Theo Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15 và Quyết định số 11/2023/QĐ-TTg, ngân hàng và các đối tượng báo cáo khác phải báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước các giao dịch tiền mặt có tổng giá trị từ 400 triệu đồng trở lên trong một ngày. Dù sao đi nữa, việc góp vốn nước ngoài và thanh toán chuyển nhượng cổ phần đều phải đi qua tài khoản vốn đầu tư bằng hình thức chuyển khoản (Tài khoản vốn đầu tư).
Tỷ giá và quy đổi
Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm hằng ngày đối với đô la Mỹ, và các ngân hàng thương mại được giao dịch trong biên độ cộng hoặc trừ 5% so với tỷ giá này; ví dụ, vào giữa tháng 8/2026, tỷ giá trung tâm là 25.586 đồng/USD, tương ứng mức trần 26.865 đồng. Tỷ giá đối với các ngoại tệ khác do các ngân hàng xác định. Doanh nghiệp mua ngoại tệ từ ngân hàng được phép để thực hiện các khoản thanh toán được phép, kèm chứng từ chứng minh, và bán ngoại tệ thu được cho ngân hàng khi cần đồng Việt Nam.
Thuế được kê khai và nộp bằng đồng Việt Nam, và báo cáo tài chính theo luật định được trình bày bằng đồng Việt Nam. Luật Kế toán cho phép doanh nghiệp có nghiệp vụ thu, chi chủ yếu bằng ngoại tệ được chọn loại ngoại tệ đó làm đơn vị tiền tệ trong kế toán nếu đáp ứng điều kiện, nhưng báo cáo tài chính theo luật định vẫn phải được quy đổi sang đồng Việt Nam. Doanh thu, chi phí, tài sản và nợ phải trả bằng ngoại tệ được quy đổi theo tỷ giá do các quy định về kế toán và thuế quy định, nhìn chung là tỷ giá giao dịch thực tế của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thực hiện giao dịch, và chênh lệch tỷ giá đã thực hiện và chưa thực hiện ảnh hưởng đến lợi nhuận chịu thuế. Doanh nghiệp có khoản vay hoặc khoản phải thu lớn bằng đô la nên lập mô hình tác động của tỷ giá đối với nghĩa vụ thuế và đối với mức trần chi phí lãi vay 30% EBITDA.
Ngoại tệ trong lãnh thổ Việt Nam: các trường hợp chính
| Tình huống | Có được sử dụng ngoại tệ? | Căn cứ |
|---|---|---|
| Doanh nghiệp Việt Nam bán hàng cho doanh nghiệp Việt Nam | Không; chỉ sử dụng đồng Việt Nam | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 3 |
| Xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú | Có; được báo giá, định giá và nhận ngoại tệ | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 4 |
| Bên cung cấp trong nước bán nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp chế xuất | Có, thông qua chuyển khoản | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 4 |
| Giao dịch giữa hai doanh nghiệp chế xuất | Có, thông qua chuyển khoản | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 4 |
| Tiền lương của người lao động nước ngoài | Có, nếu được thỏa thuận trong hợp đồng lao động | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 4 |
| Tiền lương của người lao động Việt Nam | Không | Điều 3 |
| Thuê văn phòng hoặc nhà xưởng giữa các người cư trú | Không; giá hợp đồng bằng đồng Việt Nam | Điều 3 |
| Cước vận tải quốc tế do đại lý của hãng vận tải báo giá | Được báo giá bằng ngoại tệ; thanh toán bằng đồng Việt Nam | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 4 |
| Giá khách sạn và du lịch trên trang web | Bằng đồng Việt Nam kèm giá tương đương bằng ngoại tệ, bằng tiếng nước ngoài; không áp dụng cho thực đơn hoặc bảng giá | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 4 |
| Người cư trú góp vốn vào dự án có vốn đầu tư nước ngoài | Có, thông qua chuyển khoản | Thông tư số 32/2013/TT-NHNN, Điều 4 |
| Thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ 5 triệu đồng trở lên | Bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt | Luật số 48/2024/QH15 |
| Khoản chi được trừ khi tính thuế TNDN từ 5 triệu đồng trở lên | Bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt | Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, Điều 9 |
| Giao dịch tiền mặt từ 400 triệu đồng trở lên | Báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước | Quyết định số 11/2023/QĐ-TTg |
Ví dụ minh họa
Một tháng giao dịch tại nhà máy may mặc có vốn nước ngoài
Một tập đoàn Hồng Kông sở hữu một công ty may mặc Việt Nam tại Long An không phải là doanh nghiệp chế xuất. Các giao dịch và số tiền chỉ mang tính minh họa.
| Vải mua của nhà cung cấp Trung Quốc | 120.000 USD, được định giá và thanh toán bằng đô la từ tài khoản ngoại tệ trên cơ sở hợp đồng, hóa đơn và tờ khai hải quan: nhập khẩu từ người không cư trú. |
|---|---|
| Phụ liệu mua của nhà cung cấp Việt Nam | 850 triệu đồng, được định giá, lập hóa đơn và thanh toán bằng đồng Việt Nam qua chuyển khoản; thuế GTGT đầu vào được khấu trừ vì được thanh toán không dùng tiền mặt. |
| Bán hàng cho bên mua Hồng Kông của tập đoàn | 480.000 USD, lập hóa đơn bằng đô la và nhận vào tài khoản ngoại tệ: xuất khẩu cho người không cư trú. |
| Bán hàng cho một doanh nghiệp chế xuất tại một khu công nghiệp ở Đồng Nai | 60.000 USD, lập hóa đơn bằng đô la và nhận qua chuyển khoản theo ngoại lệ dành cho doanh nghiệp chế xuất. |
| Bán hàng cho một nhà bán lẻ thời trang Việt Nam | 1,2 tỷ đồng, lập hóa đơn và nhận bằng đồng Việt Nam; bảng giá bằng đô la dự kiến áp dụng cho khách hàng này đã được rút lại theo tư vấn. |
| Tiền thuê nhà xưởng trả cho nhà phát triển khu công nghiệp | Đơn giá của nhà phát triển được thể hiện bằng USD/m² trong tài liệu giới thiệu, nhưng hợp đồng thuê ấn định giá bằng đồng Việt Nam có xem xét lại hằng năm; thanh toán bằng đồng Việt Nam. |
| Tiền lương | Tổng giám đốc (người Hồng Kông cư trú tại Việt Nam theo nhiệm kỳ công tác hai năm) được trả lương bằng đô la Mỹ qua chuyển khoản theo hợp đồng lao động; 600 công nhân Việt Nam được trả lương bằng đồng Việt Nam. |
| Quỹ tiền mặt | Chỉ chi các khoản mua nhỏ dưới 5 triệu đồng; mọi khoản lớn hơn được thanh toán bằng chuyển khoản để bảo toàn quyền khấu trừ thuế GTGT và chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. |
Nếu công ty ký với nhà bán lẻ Việt Nam theo bảng giá bằng đô la, công ty sẽ có nguy cơ bị phạt tiền theo Nghị định số 340/2025/NĐ-CP và phát sinh tranh chấp về khả năng thực thi của điều khoản giá.
Nếu bản thân công ty là doanh nghiệp chế xuất, việc mua phụ liệu trong nước cũng có thể được định giá bằng đô la.
Câu hỏi nhà đầu tư thường gặp về đồng tiền trong lãnh thổ Việt Nam
Doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Việt Nam có được lập hóa đơn bằng đô la Mỹ cho khách hàng Việt Nam không?
Nhìn chung là không. Doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam là người cư trú, và Thông tư số 32/2013/TT-NHNN cấm người cư trú báo giá, định giá, lập hóa đơn hoặc thanh toán cho nhau bằng ngoại tệ, trừ khi thuộc một trường hợp ngoại lệ tại Điều 4, chẳng hạn bán hàng cho doanh nghiệp chế xuất. Doanh nghiệp nên định giá bằng đồng Việt Nam và thỏa thuận cơ chế xem xét lại giá định kỳ nếu rủi ro tỷ giá là đáng kể.
Người lao động nước ngoài có được trả lương bằng đô la không?
Có. Điều 4 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN cho phép thỏa thuận và trả tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp bằng ngoại tệ cho người lao động là người không cư trú và người lao động là người nước ngoài cư trú. Thuế thu nhập cá nhân và sổ sách kế toán của người sử dụng lao động vẫn được tính bằng đồng Việt Nam. Người lao động Việt Nam phải được trả lương bằng đồng Việt Nam.
Giá hợp đồng bằng đồng Việt Nam có được gắn với tỷ giá đô la không?
Việc này có rủi ro. Thông tư số 32/2013/TT-NHNN coi việc quy đổi hoặc điều chỉnh giá theo ngoại tệ là thuộc phạm vi bị cấm, và thực tiễn đối với các điều khoản như vậy chưa thống nhất. Cách làm thận trọng là ấn định giá cố định bằng đồng Việt Nam kèm cơ chế xem xét lại giá định kỳ đã được thỏa thuận và không tự động vận hành theo tỷ giá.
Vì sao hóa đơn của nhà cung cấp trên 5 triệu đồng phải được thanh toán bằng chuyển khoản?
Vì nếu không, quy định về thuế sẽ không cho khấu trừ hoặc không cho tính vào chi phí được trừ. Theo Luật số 48/2024/QH15, thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ 5 triệu đồng trở lên chỉ được khấu trừ khi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP áp dụng cùng ngưỡng này đối với chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. Tiền mặt nộp vào tài khoản của bên bán không được tính.
Định giá bằng ngoại tệ trong lãnh thổ Việt Nam bị xử phạt như thế nào?
Phạt tiền hành chính theo Nghị định số 340/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 09/02/2026, trong đó tổ chức bị phạt gấp hai lần mức phạt đối với cá nhân. Hệ quả thương mại có thể nặng nề hơn: điều khoản giá có thể không thể thực thi, ngân hàng sẽ từ chối các khoản thanh toán bằng ngoại tệ giữa các người cư trú, và cơ quan thuế có thể xác định lại giao dịch.
Thuật ngữ thường gặp trong hồ sơ, tài liệu
| Tiếng Anh | Tiếng Việt | Giải nghĩa |
|---|---|---|
| Restriction on the use of foreign exchange | Hạn chế sử dụng ngoại hối | Quy định tại Thông tư số 32/2013/TT-NHNN. |
| Price listing | Niêm yết giá | Việc niêm yết giá, thuộc phạm vi của nguyên tắc chỉ sử dụng đồng Việt Nam. |
| Export processing enterprise | Doanh nghiệp chế xuất | Doanh nghiệp xuất khẩu toàn bộ sản phẩm; được sử dụng ngoại tệ khi mua nguyên liệu đầu vào. |
| Non-cash payment | Thanh toán không dùng tiền mặt | Thanh toán bằng chuyển khoản, thẻ hoặc phương thức không dùng tiền mặt khác, bắt buộc để được khấu trừ hoặc tính vào chi phí được trừ đối với khoản trên 5 triệu đồng. |
| Central exchange rate | Tỷ giá trung tâm | Tỷ giá tham chiếu hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước đối với đô la Mỹ. |
| Trading band | Biên độ tỷ giá | Phạm vi cộng hoặc trừ 5% so với tỷ giá trung tâm. |
| Accounting currency | Đơn vị tiền tệ trong kế toán | Đơn vị tiền tệ dùng để ghi sổ kế toán của doanh nghiệp; báo cáo tài chính theo luật định được lập bằng đồng Việt Nam. |
| Large-value transaction | Giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo | Giao dịch tiền mặt từ 400 triệu đồng trở lên phải báo cáo theo quy định về phòng, chống rửa tiền. |
Nội dung liên quan trong cẩm nang
Câu hỏi thường gặp liên quan (tiếng Anh)
Nguồn chính thức
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn): Thông tư số 32/2013/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối, đã được sửa đổi, bổ sung
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; Nghị định số 320/2025/NĐ-CP
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: tỷ giá trung tâm hằng ngày; Thông tư số 75/2025/TT-NHNN
- Cục Thuế: điều kiện khấu trừ thuế GTGT và chi phí được trừ khi tính thuế TNDN
Bạn có câu hỏi về trường hợp cụ thể của mình?
Hãy hỏi Lawbot, chatbot AI cung cấp thông tin pháp lý của Be Vietnam Wise. Lawbot đối chiếu các nguồn chính thức của Việt Nam và chỉ dẫn đến văn bản pháp luật điều chỉnh. Nếu bạn cần hỗ trợ cho dự án hiện tại hoặc có câu hỏi về kinh doanh tại Việt Nam, vui lòng liên hệ với chúng tôi.
Hỏi Lawbot về nội dung nàyMở trong ứng dụngLiên hệ với chúng tôiTrang này cung cấp thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý. Thuế suất, ngưỡng và thủ tục có thể thay đổi; nội dung được rà soát theo các nguồn chính thức, nhưng trước khi hành động, bạn nên xác nhận mọi vấn đề quan trọng với cơ quan có thẩm quyền hoặc với luật sư được phép hành nghề tại Việt Nam. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Anh; nếu có khác biệt, văn bản pháp luật gốc bằng tiếng Việt là căn cứ duy nhất có giá trị pháp lý.