Chương 10 · Mục 10.1/8
Khung pháp lý về khoáng sản và các cơ quan quản lý: quyền sở hữu của Nhà nước theo Điều 53 Hiến pháp, Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 được sửa đổi năm 2025, Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, việc chuyển giao về Bộ Công Thương vào tháng 9 năm 2026, thẩm quyền của cấp tỉnh, khoáng sản và đất đai, và sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài
Những điểm cần nắm
- Khoáng sản là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Điều 53 Hiến pháp năm 2013), vì vậy quyền sử dụng đất không bao gồm quyền đối với khoáng sản nằm dưới đất và mọi mỏ khoáng sản đều phải có giấy phép.
- Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 được áp dụng từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, được sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15 từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, cùng với Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 2 tháng 7 năm 2025 được sửa đổi bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2026.
- Nghị định số 351/2026/NĐ-CP chuyển chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường sang Bộ Công Thương từ ngày 15 tháng 9 năm 2026; Luật sửa đổi dẫn chiếu đến bộ được giao làm đầu mối thay vì nêu tên một bộ cụ thể.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép đối với khoáng sản nhóm II, III và IV, khoáng sản nhóm I tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được khoanh định và khai thác tận thu khoáng sản, đồng thời công nhận kết quả thăm dò đối với các giấy phép do mình cấp (Điều 51 và Điều 108, đã được sửa đổi).
- Giấy phép khai thác khoáng sản được cấp cho doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp (Điều 53), do đó công ty Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; doanh nghiệp nước ngoài có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện có thể được cấp giấy phép thăm dò khoáng sản (Điều 37).
Quyền sở hữu của Nhà nước và ý nghĩa đối với nhà đầu tư
Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời và các tài nguyên thiên nhiên khác là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Toàn bộ chế độ pháp lý về khoáng sản đều bắt nguồn từ quy định này. Nhà nước không bán mỏ khoáng sản; Nhà nước trao quyền có thời hạn để thăm dò và sau đó khai thác khoáng sản, đổi lại nhà đầu tư nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và thuế tài nguyên đối với sản lượng khai thác. Quyền này gắn với chủ thể được cấp giấy phép, chỉ được chuyển nhượng khi có sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép, và chấm dứt cùng với giấy phép (Câu hỏi thường gặp 102).
Cũng nguyên tắc đó tách bạch khoáng sản với đất đai. Quyền sử dụng đất, dù do người Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay chính Nhà nước nắm giữ, đều không bao gồm quyền đối với khoáng sản hoặc dầu khí nằm dưới đất. Người sử dụng đất phát hiện sét, cát hoặc quặng trên đất của mình không được khai thác để bán khi chưa có giấy phép, và nhà đầu tư mua một khu đất để khai thác đá chỉ nhận được phần bề mặt. Ngược lại, chủ giấy phép không đương nhiên có quyền đối với bề mặt đất. Đối với dự án đã được cấp phép, Điều 79 Luật Đất đai số 31/2024/QH15 (Luật Đất đai năm 2024) cho phép Nhà nước thu hồi đất để thực hiện hoạt động khai thác khoáng sản đã được cấp phép, kèm theo bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người sử dụng đất, và Điều 205 điều chỉnh việc cho thuê đất để hoạt động khoáng sản, thông thường theo hình thức thuê đất trả tiền hằng năm; tổ chức khai thác cũng có thể thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người đang sử dụng đất. Thủ tục về đất đai được trình bày tại mục Cách doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp cận đất đai và Thu hồi đất, bồi thường và đất chậm đưa vào sử dụng.
Điều 8 Luật số 54/2024/QH15 bổ sung khía cạnh cộng đồng. Địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác được chia sẻ lợi ích thông qua ngân sách nhà nước và kết cấu hạ tầng, và tổ chức khai thác phải hỗ trợ các hộ gia đình bị ảnh hưởng, bao gồm hỗ trợ đào tạo nghề, và ưu tiên sử dụng lao động địa phương. Các nghĩa vụ này được thực thi thông qua giấy phép và đăng ký đầu tư, và trên thực tế chúng định hình sự chấp thuận của cộng đồng đối với hoạt động của dự án không kém bất kỳ phê duyệt nào.
Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024
Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 được thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2024 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, thay thế Luật Khoáng sản năm 2010. Phạm vi của Luật không chỉ giới hạn ở khai thác khoáng sản mà còn bao gồm điều tra địa chất và thông tin, dữ liệu địa chất. Đối với nhà đầu tư, các chương cốt lõi là các chương về quy hoạch khoáng sản và khu vực khoáng sản (bao gồm khu vực cấm hoạt động khoáng sản và khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản theo Điều 26, khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ theo Điều 27 và khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia theo các Điều từ 28 đến 34), thăm dò khoáng sản (các Điều từ 37 đến 52), khai thác khoáng sản nhóm I, II và III (các Điều từ 53 đến 66), khai thác tận thu khoáng sản (các Điều từ 67 đến 71), khoáng sản nhóm IV làm vật liệu san lấp (các Điều từ 72 đến 74), chế biến khoáng sản (Điều 77 và Điều 78), bảo vệ môi trường và đóng cửa mỏ khoáng sản (các Điều từ 79 đến 85), tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (Điều 98 và Điều 99) và đấu giá quyền khai thác khoáng sản (các Điều từ 100 đến 106). Trách nhiệm quản lý nhà nước được quy định tại Điều 107 và thẩm quyền cấp giấy phép tại Điều 108.
Có bốn điểm phân biệt Luật năm 2024 với luật trước đó. Luật phân loại khoáng sản theo mục đích sử dụng thành bốn nhóm thay vì theo các loại trước đây, và xác định cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép theo nhóm khoáng sản (Điều 6). Luật thiết lập cơ chế đơn giản đối với khoáng sản nhóm IV làm vật liệu san lấp, được khai thác mà không cần giấy phép thăm dò (Điều 73). Luật đưa ra cơ chế thu hồi khoáng sản trong phạm vi dự án xây dựng, theo đó chủ đầu tư có thể sử dụng hoặc bán khoáng sản phát hiện trong quá trình thi công sau khi đăng ký. Và Luật chuyển tiền cấp quyền khai thác khoáng sản sang hình thức nộp hằng năm, tính trên trữ lượng ghi trong giấy phép và sau đó quyết toán theo sản lượng khai thác thực tế (Điều 98 và Điều 99). Quy định chi tiết về từng nội dung được trình bày tại mục Nhóm khoáng sản, cấp phép và đấu giá và Giấy phép thăm dò và giấy phép khai thác khoáng sản.
Lần sửa đổi năm 2025 và Nghị định số 193/2025/NĐ-CP
Chưa đầy sáu tháng sau khi Luật có hiệu lực, Quốc hội đã sửa đổi Luật. Luật số 147/2025/QH15 được thông qua ngày 11 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2026. Các thay đổi chính gồm: chuyển thẩm quyền cấp phép đối với khoáng sản nhóm II, III và IV, và khoáng sản nhóm I tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ, cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; mở rộng các khu vực cấp quyền khai thác khoáng sản không qua đấu giá, bao gồm khu vực cần thiết cho an ninh năng lượng, quốc phòng và khoáng sản chiến lược, vật liệu cho các dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công và dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, và nguyên liệu cho các nhà máy chế biến đang hoạt động; cho phép cấp phép khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng cho các dự án công cụ thể mà không phụ thuộc vào phương án quản lý khoáng sản cấp tỉnh; cho phép lấy mẫu để thử nghiệm công nghệ chế biến; và đặt đất hiếm dưới chế độ chuỗi giá trị khép kín, trong đó thăm dò, khai thác và chế biến được gắn kết với nhau và quặng đất hiếm thô không được xuất khẩu (Câu hỏi thường gặp 101, Câu hỏi thường gặp 105). Luật sửa đổi cũng thay thế các dẫn chiếu đến một bộ cụ thể bằng dẫn chiếu đến bộ được giao làm đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản, nhờ đó việc chuyển giao sau này về Bộ Công Thương được thực hiện mà không cần sửa đổi Luật thêm.
Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 2 tháng 7 năm 2025, có hiệu lực cùng ngày, hướng dẫn thi hành Luật với hơn 150 điều: danh mục khoáng sản thuộc từng nhóm, năng lực tài chính, trình tự, thủ tục và thời hạn cấp phép, công nhận trữ lượng, công thức tính và phương thức nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đấu giá, đóng cửa mỏ và khoáng sản chiến lược. Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2026, cũng có hiệu lực kể từ ngày ký, sửa đổi Nghị định số 193/2025/NĐ-CP để hướng dẫn Luật số 147/2025/QH15, chuyển nhiều thời hạn sang tính theo ngày làm việc, viết lại các quy định về năng lực tài chính và bổ sung một nhóm điều mới, từ Điều 110a đến Điều 110g, về đất hiếm. Các dẫn chiếu trong chương này đến Nghị định số 193/2025/NĐ-CP được hiểu là Nghị định đã được sửa đổi như trên.
Cơ quan quản lý: chuyển giao về Bộ Công Thương
Từ khi hợp nhất các bộ năm 2025 cho đến ngày 14 tháng 9 năm 2026, địa chất và khoáng sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý, sau khi bộ này tiếp nhận Bộ Tài nguyên và Môi trường trước đây. Nghị định số 351/2026/NĐ-CP chuyển chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản sang Bộ Công Thương kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026, cùng ngày với việc chuyển chức năng quản lý nhà nước về khu công nghiệp từ Bộ Tài chính sang Bộ Công Thương theo Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP của Chính phủ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam được chuyển theo chức năng này, và hiện nay Bộ Công Thương cấp giấy phép thăm dò và giấy phép khai thác khoáng sản nhóm I, tổ chức đấu giá cấp bộ, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về địa chất và khoáng sản và, thông qua Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, công nhận kết quả thăm dò đối với các khu vực do bộ cấp phép (Điều 51). Bộ Công Thương vốn đã ban hành danh mục và tiêu chuẩn xuất khẩu đối với khoáng sản nhóm I và khoáng chất công nghiệp và quản lý hoạt động chế biến, vì vậy việc chuyển giao đưa cấp phép, chế biến và thương mại về một đầu mối.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục quản lý đất đai và bảo vệ môi trường, do đó đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với mỏ khoáng sản vẫn thuộc hệ thống của bộ này và của cấp tỉnh (Câu hỏi thường gặp 89). Bộ Xây dựng ban hành danh mục và tiêu chuẩn xuất khẩu đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Bộ Tài chính và Cục Thuế thu thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và thuế thu nhập doanh nghiệp. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch khoáng sản quốc gia, các khu vực cấm hoạt động khoáng sản do cấp tỉnh khoanh định, các khu vực không đấu giá thuộc thẩm quyền của bộ và mọi giấy phép đối với đất hiếm. Các biểu mẫu và quyết định ban hành trước ngày 15 tháng 9 năm 2026 dưới danh nghĩa Bộ Nông nghiệp và Môi trường vẫn có hiệu lực; các hồ sơ đang giải quyết được Bộ Công Thương tiếp tục xử lý.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Cấp tỉnh luôn có vai trò quan trọng trong hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam vì kiểm soát đất đai, đường giao thông, nguồn nước và trật tự tại địa phương. Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, xét về số lượng, cấp tỉnh còn cấp phép cho phần lớn các mỏ. Theo Điều 108 được sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, chấp thuận trả lại, chấp thuận chuyển nhượng và thu hồi giấy phép đối với khoáng sản nhóm II, nhóm III và nhóm IV, khoáng sản nhóm I tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được bộ khoanh định và công bố, và khai thác tận thu khoáng sản. Trường hợp khu vực cấp phép nằm trên địa bàn hai tỉnh trở lên, tỉnh có phần diện tích lớn nhất quyết định sau khi lấy ý kiến các tỉnh còn lại. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng công nhận kết quả thăm dò đối với các giấy phép do mình cấp (khoản 2 Điều 51), khoanh định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khu vực cấm hoạt động khoáng sản và khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản (khoản 4 Điều 26), phê duyệt các khu vực không đấu giá thuộc thẩm quyền (Điều 100), tổ chức đấu giá tại địa phương và phê duyệt đóng cửa mỏ đối với các giấy phép do mình cấp.
Hồ sơ do cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được giao quản lý khoáng sản tiếp nhận và thẩm định. Sau đợt sắp xếp tổ chức năm 2025, chức năng này thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường; một số tỉnh có thể giao lại chức năng này sau khi việc chuyển giao ở trung ương về Bộ Công Thương được thực hiện, và người nộp hồ sơ cần xác nhận cơ quan tiếp nhận trước khi nộp. Cấp tỉnh cũng quy định mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản trong khung do trung ương ban hành, vì vậy chi phí của một mỏ đá có thể khác nhau giữa các tỉnh.
Các luật khác áp dụng đối với dự án khai thác khoáng sản
Pháp luật về khoáng sản là điểm xuất phát, không phải toàn bộ khung pháp lý. Nhà đầu tư nước ngoài thành lập công ty và đăng ký dự án theo Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 (Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư). Các phê duyệt về môi trường được thực hiện theo Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, đất đai theo Luật Đất đai năm 2024, và các khoản thu tài chính theo pháp luật về thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu. Khoáng sản phóng xạ, và các sản phẩm phụ có tính phóng xạ của một số loại quặng đất hiếm, cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Năng lượng nguyên tử. Việc cấp phép phải tuân thủ quy hoạch khoáng sản: quy hoạch quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt bởi Quyết định số 866/QĐ-TTg năm 2023, và quy hoạch cấp tỉnh bao gồm khoáng sản nhóm III và nhóm IV.
Sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài
Điều 53 của Luật cho phép cấp giấy phép khai thác khoáng sản cho doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, và Điều 37 cho phép cấp giấy phép thăm dò khoáng sản cho các chủ thể đó và cho doanh nghiệp nước ngoài có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài có ý định khai thác khoáng sản phải thành lập công ty Việt Nam, và vì trong phần lớn trường hợp công ty này có trên 50% vốn nước ngoài, công ty trước tiên phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều mà nhà đầu tư trong nước không phải thực hiện (Câu hỏi thường gặp 106). Thăm dò và khai thác khoáng sản là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, và nhà đầu tư cần kiểm tra danh mục ngành, nghề tiếp cận thị trường tại Phụ lục I Nghị định số 96/2026/NĐ-CP đối với loại khoáng sản cụ thể trước khi xây dựng cấu trúc đầu tư (Tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài).
Hai hạn chế khác tác động nặng nề hơn đến nhà đầu tư nước ngoài. Điều 65 yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài vào khoáng sản chiến lược, quan trọng phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo pháp luật về đầu tư và chấp hành sự định hướng của Nhà nước đối với hoạt động này, và Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định nhà đầu tư nước ngoài tham gia thăm dò các khoáng sản đó được xác định theo hiệp định liên Chính phủ, với ưu tiên cấp quyền khai thác cho doanh nghiệp trong nước hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trong chế biến. Đất hiếm được dành cho các doanh nghiệp do Nhà nước chỉ định hoặc cho phép. Các quy định này được trình bày tại mục Khoáng sản chiến lược, đất hiếm và xuất khẩu.
Những câu hỏi đầu tiên đối với mọi cơ hội về khoáng sản
Những câu hỏi mà nhà đầu tư nước ngoài, hoặc tư vấn của nhà đầu tư, cần trả lời trước khi ký bản điều khoản chính cho một dự án khoáng sản tại Việt Nam hoặc một phần vốn tại doanh nghiệp nắm giữ giấy phép.
- Khoáng sản thuộc nhóm nào?Điều 6 của Luật và danh mục tại Nghị định số 193/2025/NĐ-CP xác định nhóm khoáng sản, và nhóm khoáng sản quyết định cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép, yêu cầu thăm dò và việc có phải đấu giá hay không.
- Khu vực có nằm trong quy hoạch khoáng sản không?Kiểm tra quy hoạch quốc gia đối với khoáng sản nhóm I và nhóm II (Quyết định số 866/QĐ-TTg) hoặc quy hoạch cấp tỉnh đối với khoáng sản nhóm III và IV, và khu vực đó có phải là khu vực cấm, khu vực tạm thời cấm, khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia hay khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ hay không.
- Giấy phép thực sự bao gồm những gì?Thu thập bản giấy phép, tọa độ, độ sâu, trữ lượng, công suất và thời hạn, quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và lần quyết toán gần nhất.
- Ai nắm giữ giấy phép, và giấy phép có được chuyển nhượng không?Quyền thăm dò khoáng sản chỉ được chuyển nhượng sau khi đã thực hiện 50% dự toán thăm dò (Điều 46); quyền khai thác khoáng sản chỉ được chuyển nhượng sau khi đã hoàn thành xây dựng cơ bản và mỏ đã đi vào khai thác (Điều 58).
- Nhà đầu tư có được nắm giữ giấy phép không?Xác nhận điều kiện tiếp cận thị trường, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và khoáng sản có phải là khoáng sản chiến lược hoặc đất hiếm hay không, vì khi đó phát sinh thêm yêu cầu chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và điều kiện theo hiệp định liên Chính phủ.
- Các phê duyệt về môi trường và đất đai đã có chưa?Quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc giấy phép môi trường, chứng từ ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, quyết định cho thuê đất hoặc thu hồi đất và hồ sơ bồi thường.
- Các nghĩa vụ tài chính đã được thực hiện đầy đủ chưa?Thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trường và thuế thu nhập doanh nghiệp; khoản nợ đọng có thể cản trở việc chuyển nhượng và dẫn đến thu hồi giấy phép.
Khung pháp lý về khoáng sản tại thời điểm ngày 10 tháng 10 năm 2026
| Văn bản | Nội dung điều chỉnh | Hiệu lực |
|---|---|---|
| Hiến pháp năm 2013, Điều 53 | Tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý | Ngày 1 tháng 1 năm 2014 |
| Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 | Quy hoạch, khu vực khoáng sản, thăm dò, khai thác, đóng cửa mỏ, tiền cấp quyền, đấu giá, thẩm quyền cấp giấy phép | Ngày 1 tháng 7 năm 2025 |
| Luật số 147/2025/QH15 | Cấp tỉnh cấp phép khoáng sản nhóm II đến nhóm IV, mở rộng khu vực không đấu giá, khoáng sản nhóm III cho dự án công, chuỗi giá trị đất hiếm | Ngày 1 tháng 1 năm 2026 |
| Nghị định số 193/2025/NĐ-CP | Quy định chi tiết: nhóm khoáng sản, năng lực tài chính, thủ tục, công thức tính tiền cấp quyền, đấu giá, đóng cửa mỏ, khoáng sản chiến lược | Ngày 2 tháng 7 năm 2025 |
| Nghị định số 21/2026/NĐ-CP | Sửa đổi Nghị định số 193/2025/NĐ-CP; các Điều từ 110a đến 110g về đất hiếm; thời hạn tính theo ngày làm việc | Ngày 16 tháng 1 năm 2026 |
| Nghị định số 351/2026/NĐ-CP | Chuyển chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản sang Bộ Công Thương | Ngày 15 tháng 9 năm 2026 |
| Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Điều 79 và Điều 205 | Thu hồi đất để khai thác khoáng sản đã được cấp phép; cho thuê đất để hoạt động khoáng sản | Ngày 1 tháng 8 năm 2024 |
| Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 | Đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường (Điều 137) | Ngày 1 tháng 1 năm 2022 |
| Quyết định số 866/QĐ-TTg (năm 2023) | Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 | Năm 2023 |
Ví dụ minh họa
Xác định các cơ quan có thẩm quyền đối với dự án vonfram có vốn nước ngoài tại vùng núi phía Bắc
Một công ty thương mại Nhật Bản và một công ty khai khoáng quy mô nhỏ của Úc thành lập công ty liên doanh tại Việt Nam (70% vốn nước ngoài) để nhận chuyển nhượng một giấy phép thăm dò vonfram có diện tích 12 km2 được cấp năm 2024, trong đó công tác thăm dò đã hoàn thành 60%. Vonfram là khoáng sản kim loại nhóm I và, theo khoản 4 Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, là khoáng sản quý hiếm. Các dữ kiện và mốc thời gian chỉ mang tính minh họa.
| Công ty và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư | Công ty liên doanh đăng ký dự án tại Sở Tài chính theo Luật số 143/2025/QH15; Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được cấp vào tuần thứ 5; công ty được đăng ký thành lập vào tuần thứ 6. |
|---|---|
| Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép | Bộ Công Thương (khoáng sản nhóm I nằm ngoài khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ), kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026. Trước ngày đó, hồ sơ được nộp cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường. |
| Chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản | Được phép vì đã thực hiện trên 50% dự toán thăm dò (Điều 46); bên nhận chuyển nhượng phải đáp ứng Điều 37 và quy định về năng lực tài chính tại Điều 26 của Nghị định (phần dự toán còn lại được bảo đảm bằng vốn chủ sở hữu hoặc bảo lãnh ngân hàng). Giấy phép được cấp lại cho công ty liên doanh cho thời hạn còn lại. |
| Công nhận trữ lượng | Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, trên cơ sở báo cáo kết quả thăm dò, trong thời hạn sáu tháng sau khi giấy phép thăm dò khoáng sản hết hạn (khoản 3 Điều 50). |
| Giấy phép khai thác khoáng sản | Tiếp tục là Bộ Công Thương; hồ sơ bao gồm quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo nghiên cứu khả thi và tài liệu chứng minh vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 30% tổng vốn đầu tư hoặc cam kết tài trợ vốn (Điều 55 của Nghị định). |
| Môi trường | Báo cáo đánh giá tác động môi trường được thẩm định trong hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc cấp tỉnh, tùy thuộc vào loại dự án theo Nghị định số 08/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi. |
| Đất đai | Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi đất theo Điều 79 Luật Đất đai năm 2024 và cho công ty thuê đất trả tiền hằng năm theo Điều 205; phương án bồi thường được thống nhất với các hộ gia đình bị ảnh hưởng. |
| Thuế | Thuế tài nguyên đối với vonfram ở mức 20% (Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13); thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức 50%, hoặc 40% nếu ít nhất 70% diện tích nằm tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. |
Nếu khoáng sản là đá vôi dùng cho nhà máy xi măng của chính công ty liên doanh (nhóm II), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ cấp phép, và khu vực này có thể được giao không qua đấu giá với tư cách là nguồn nguyên liệu cho nhà máy chế biến đang hoạt động.
Nếu đối tượng là mỏ đất hiếm, việc chuyển nhượng và mọi giấy phép sau đó đều phải có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, và tư cách của nhà đầu tư sẽ phụ thuộc vào việc được Nhà nước chỉ định hoặc cho phép.
Câu hỏi nhà đầu tư thường gặp về khung pháp lý khoáng sản
Ai sở hữu khoáng sản được phát hiện dưới đất của tôi tại Việt Nam?
Nhà nước. Điều 53 Hiến pháp quy định khoáng sản là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, vì vậy quyền sử dụng đất không bao gồm quyền đối với khoáng sản nằm dưới đất. Việc khai thác khoáng sản để bán phải có giấy phép theo Luật số 54/2024/QH15, kể cả đối với sét hoặc cát trên đất mà nhà đầu tư đang sử dụng.
Hiện nay bộ nào quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam?
Bộ Công Thương, kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026 theo Nghị định số 351/2026/NĐ-CP. Bộ Công Thương tiếp nhận chức năng quản lý địa chất và khoáng sản, bao gồm cấp giấy phép khoáng sản nhóm I và Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục thực hiện các phê duyệt về đất đai và môi trường. Cấp tỉnh cấp phép đối với khoáng sản nhóm II, III và IV.
Luật nào áp dụng đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản nộp năm 2026?
Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 được sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15 từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, cùng với Nghị định số 193/2025/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP. Luật Khoáng sản năm 2010 và các nghị định hướng dẫn không còn điều chỉnh các hồ sơ mới, trừ trường hợp áp dụng quy định chuyển tiếp tại Điều 111.
Công ty nước ngoài có được trực tiếp nắm giữ giấy phép khai thác khoáng sản không?
Không, đối với hoạt động khai thác. Điều 53 quy định giấy phép khai thác khoáng sản được cấp cho doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp, vì vậy nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập công ty Việt Nam và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước. Riêng đối với hoạt động thăm dò, Điều 37 còn cho phép doanh nghiệp nước ngoài có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam được cấp giấy phép.
Mua đất có cho tôi quyền khai thác đá trên đất đó không?
Không. Quyền sử dụng đất và quyền đối với khoáng sản là tách biệt. Việc khai thác đá phải có giấy phép của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với khoáng sản nhóm II đến nhóm IV hoặc của Bộ Công Thương đối với khoáng sản nhóm I. Ngược lại, chủ giấy phép không có quyền sử dụng đất sẽ có được đất thông qua việc Nhà nước thu hồi đất và cho thuê đất theo Luật Đất đai năm 2024 hoặc thông qua thỏa thuận nhận chuyển nhượng.
Thuật ngữ thường gặp trong hồ sơ, tài liệu
| Tiếng Anh | Tiếng Việt | Giải nghĩa |
|---|---|---|
| Law on Geology and Minerals | Luật Địa chất và khoáng sản | Luật số 54/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, đã được sửa đổi. |
| Mineral activities | Hoạt động khoáng sản | Hoạt động thăm dò và khai thác khoáng sản, bao gồm cả khai thác tận thu khoáng sản. |
| Exploration licence | Giấy phép thăm dò khoáng sản | Giấy phép thăm dò một khu vực xác định (các Điều từ 37 đến 52). |
| Mining licence | Giấy phép khai thác khoáng sản | Giấy phép khai thác khoáng sản (các Điều từ 53 đến 66). |
| Licensing authority | Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép | Bộ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, theo Điều 108. |
| Prohibited area | Khu vực cấm hoạt động khoáng sản | Khu vực cấm tiến hành hoạt động khoáng sản (Điều 26). |
| National mineral reserve area | Khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia | Khu vực có khoáng sản nhóm I hoặc nhóm II chưa khai thác được khoanh định để dự trữ (Điều 28). |
| Small and dispersed area | Khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ | Khu vực có khoáng sản nhóm I hoặc nhóm II chỉ phù hợp với khai thác quy mô nhỏ, do cấp tỉnh cấp phép (Điều 27). |
| Vietnam Department of Geology and Minerals | Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam | Cơ quan cấp cục ở trung ương quản lý về địa chất và khoáng sản, trực thuộc Bộ Công Thương kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026. |
Nội dung liên quan trong cẩm nang
Câu hỏi thường gặp liên quan (tiếng Anh)
- What laws govern minerals, mining, oil and gas in Vietnam?
- Who owns minerals and petroleum, and what if the deposit is under someone's land?
- How are minerals classified, and who grants mineral licences?
- Can a foreign-invested company hold a mineral licence in Vietnam?
- Where can I check licence or block availability and get advice?
- What environmental approvals do I need?
Nguồn chính thức
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn): Luật số 54/2024/QH15; Luật số 147/2025/QH15; Nghị định số 193/2025/NĐ-CP; Nghị định số 21/2026/NĐ-CP
- Bộ Công Thương (quản lý địa chất và khoáng sản kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026)
- Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (văn bản hợp nhất Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, dữ liệu khoáng sản)
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (nghị định và quyết định của Thủ tướng Chính phủ)
Bạn có câu hỏi về trường hợp cụ thể của mình?
Hãy hỏi Lawbot, chatbot AI cung cấp thông tin pháp lý của Be Vietnam Wise. Lawbot đối chiếu các nguồn chính thức của Việt Nam và chỉ dẫn đến văn bản pháp luật điều chỉnh. Nếu bạn cần hỗ trợ cho dự án hiện tại hoặc có câu hỏi về kinh doanh tại Việt Nam, vui lòng liên hệ với chúng tôi.
Hỏi Lawbot về nội dung nàyMở trong ứng dụngLiên hệ với chúng tôiTrang này cung cấp thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý. Thuế suất, ngưỡng và thủ tục có thể thay đổi; nội dung được rà soát theo các nguồn chính thức, nhưng trước khi hành động, bạn nên xác nhận mọi vấn đề quan trọng với cơ quan có thẩm quyền hoặc với luật sư được phép hành nghề tại Việt Nam. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Anh; nếu có khác biệt, văn bản pháp luật gốc bằng tiếng Việt là căn cứ duy nhất có giá trị pháp lý.