Chương 10 · Mục 10.2/8
Nhóm khoáng sản, cấp phép và đấu giá: bốn nhóm khoáng sản theo Điều 6, thẩm quyền cấp phép đối với từng nhóm kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, quy hoạch khoáng sản và các khu vực không được khai thác, đấu giá quyền khai thác khoáng sản và các trường hợp ngoại lệ được mở rộng, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, và cách xác định đúng loại giấy phép và cơ quan cấp phép
Những điểm cần nắm
- Điều 6 Luật số 54/2024/QH15 phân loại khoáng sản theo mục đích sử dụng thành nhóm I (khoáng sản kim loại, khoáng sản năng lượng, đá quý, khoáng chất công nghiệp), nhóm II (khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất xi măng, gạch ốp lát, thủy tinh, đá ốp lát, vôi và vật liệu chịu lửa), nhóm III (khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, nước khoáng) và nhóm IV (khoáng sản làm vật liệu san lấp).
- Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, bộ (là Bộ Công Thương kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026) cấp phép đối với khoáng sản nhóm I và các khu vực biển nằm ngoài ranh giới vùng biển của cấp tỉnh, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép đối với khoáng sản nhóm II, III và IV, khoáng sản nhóm I tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản (Điều 108, được sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15).
- Quyền khai thác khoáng sản tại các khu vực khoáng sản đã có trong quy hoạch, khu vực khai thác tận thu và phần lớn khu vực khoáng sản nhóm IV được đấu giá theo Điều 100, và phiên đấu giá chỉ được tiến hành khi có ít nhất hai người tham gia đủ điều kiện; Luật số 147/2025/QH15 mở rộng các khu vực không đấu giá để bao gồm an ninh năng lượng, quốc phòng, khoáng sản chiến lược, vật liệu cho các dự án công ưu tiên, nguyên liệu cho sản xuất xi măng và chế biến, kết quả thăm dò đã được công nhận và gia hạn.
- Hoạt động khoáng sản bị cấm tại khu vực cấm và khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản do cấp tỉnh khoanh định và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Điều 26), và việc cấp phép phải tuân thủ quy hoạch quốc gia đối với khoáng sản nhóm I và nhóm II hoặc quy hoạch cấp tỉnh đối với khoáng sản nhóm III và IV (các Điều từ 11 đến 13).
- Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được tính theo công thức T = Q x G x R, trong đó R là tỷ lệ thu quy định tại Phụ lục III Nghị định số 193/2025/NĐ-CP hoặc mức trúng đấu giá; tiền cấp quyền được phê duyệt trên cơ sở trữ lượng được cấp phép, nộp theo từng năm và quyết toán theo sản lượng khai thác thực tế (các Điều từ 132 đến 139).
Vì sao nhóm khoáng sản quan trọng
Theo Luật Khoáng sản năm 2010, thẩm quyền cấp phép phụ thuộc vào sự kết hợp giữa loại khoáng sản và quy mô. Luật số 54/2024/QH15 thay thế cách tiếp cận đó bằng một khái niệm tổ chức duy nhất: nhóm mà khoáng sản thuộc về theo mục đích sử dụng. Nhóm khoáng sản quyết định cơ quan cấp phép cho mỏ, có cần giấy phép thăm dò hay không, khả năng khu vực bị đấu giá, thời hạn giấy phép và, đối với nhóm I, liệu khoáng sản đó có đồng thời là khoáng sản chiến lược hay không. Do đó, xác định đúng nhóm khoáng sản là bước đầu tiên trong mọi dự án khoáng sản, và câu trả lời không phải lúc nào cũng rõ ràng: đá vôi có thể thuộc nhóm II nếu dùng làm nguyên liệu cho nhà máy xi măng và thuộc nhóm III nếu được nghiền làm vật liệu nền đường, và cát thuộc nhóm III khi dùng cho xây dựng nhưng thuộc nhóm IV nếu chỉ phù hợp để san lấp.
Khoản 1 Điều 6 xác định bốn nhóm khoáng sản. Nhóm I gồm khoáng sản kim loại, khoáng sản năng lượng, đá quý, đá bán quý và khoáng chất công nghiệp: than, sắt, bauxit, đồng, vàng, thiếc, vonfram, titan, đất hiếm, apatit, graphit và các khoáng sản tương tự. Nhóm II gồm khoáng sản làm nguyên liệu, vật liệu trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng để sản xuất xi măng, gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, đá ốp lát và đá mỹ nghệ, vôi công nghiệp và vật liệu chịu lửa. Nhóm III gồm khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không thuộc nhóm II hoặc nhóm IV, cùng với than bùn, bùn khoáng, nước khoáng thiên nhiên và nước nóng thiên nhiên. Nhóm IV gồm khoáng sản chỉ phù hợp làm vật liệu san lấp, đắp nền móng, xây dựng công trình thủy lợi và phòng, chống thiên tai: sét, đất đồi, đất lẫn đá, cát, sỏi, cuội, và cát không phải là cát sông, cát hồ và cát biển (Câu hỏi thường gặp 103). Khoản 2 Điều 6 giao Chính phủ quy định danh mục chi tiết, được ban hành tại Điều 4 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, và cho phép Chính phủ quyết định nhóm của khoáng sản có nhiều mục đích sử dụng.
Thẩm quyền cấp phép đối với từng nhóm kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2026
Luật số 147/2025/QH15 viết lại Điều 108 với hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2026. Bộ trưởng bộ được giao làm đầu mối về địa chất và khoáng sản cấp giấy phép thăm dò và giấy phép khai thác đối với khoáng sản nhóm I, trừ khoáng sản nhóm I tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được bộ khoanh định và công bố, và đối với khoáng sản tại các khu vực biển nằm ngoài ranh giới hành chính của cấp tỉnh. Kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026, Bộ trưởng đó là Bộ trưởng Bộ Công Thương. Bộ trưởng cũng giải quyết việc gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, trả lại, chuyển nhượng và thu hồi các giấy phép thuộc thẩm quyền này.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép đối với khoáng sản nhóm II, nhóm III và nhóm IV, khoáng sản nhóm I tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản, đồng thời giải quyết việc gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, trả lại, chuyển nhượng và thu hồi các giấy phép đó. Trường hợp khu vực nằm trên địa bàn nhiều tỉnh, tỉnh có phần diện tích lớn nhất quyết định sau khi lấy ý kiến các tỉnh còn lại. Phần thẩm quyền cấp phép của cấp tỉnh vốn đã lớn theo Luật năm 2010, nhưng thay đổi năm 2026 khiến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở thành cơ quan cấp phép đối với mọi mỏ đá và mọi mỏ vật liệu xây dựng trên cả nước, chiếm phần lớn số lượng giấy phép.
Có hai loại khoáng sản nằm trên cả hai cấp thẩm quyền này. Mọi giấy phép thăm dò hoặc khai thác đất hiếm, và mọi giao dịch chuyển nhượng giấy phép đó, đều phải có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ trước khi Bộ trưởng quyết định (Điều 110c và Điều 110d Nghị định số 193/2025/NĐ-CP), và Thủ tướng Chính phủ chấp thuận giấy phép đối với khoáng sản chiến lược đặc biệt nói chung (khoản 4 Điều 108 của Nghị định). Giấy phép được cấp trước ngày 1 tháng 1 năm 2026 bởi cơ quan nay không còn thẩm quyền sẽ do cơ quan hiện có thẩm quyền giải quyết việc gia hạn, điều chỉnh hoặc thu hồi, trừ trường hợp chủ giấy phép lựa chọn hoàn tất hồ sơ đang giải quyết theo thủ tục có hiệu lực tại thời điểm nộp hồ sơ (Điều 111).
Quy hoạch khoáng sản và bản đồ khu vực khoáng sản
Không giấy phép nào được cấp ngoài quy hoạch. Các Điều từ 11 đến 13 quy định quy hoạch quốc gia đối với khoáng sản nhóm I và khoáng sản nhóm II do các bộ lập và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, và việc quản lý khoáng sản nhóm III và nhóm IV thông qua quy hoạch cấp tỉnh. Quy hoạch quốc gia hiện hành là Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được phê duyệt bởi Quyết định số 866/QĐ-TTg năm 2023, trong đó liệt kê các mỏ được thăm dò và khai thác trong từng giai đoạn và đặt ra các mục tiêu chế biến. Kể từ năm 2026, khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng cho các dự án công được liệt kê có thể được cấp phép mà không phụ thuộc vào phương án quản lý của cấp tỉnh theo các khoản mới được bổ sung vào Điều 55.
Trong khuôn khổ đó, Luật xác định một số loại khu vực. Khu vực quy hoạch cho hoạt động khoáng sản là nơi giấy phép được cấp, thông qua đấu giá hoặc hình thức khác. Khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ (Điều 27) có khoáng sản nhóm I hoặc nhóm II chỉ phù hợp với khai thác quy mô nhỏ và do cấp tỉnh cấp phép. Khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia (các Điều từ 28 đến 34) giữ lại khoáng sản nhóm I và nhóm II chưa khai thác để sử dụng trong tương lai; các dự án đầu tư khác chỉ được thực hiện tại các khu vực này sau khi đánh giá tác động đến khoáng sản dự trữ, và nếu dự án đó sau này bị chấm dứt để giải phóng khoáng sản, nhà đầu tư được bồi thường theo Điều 34. Cuối cùng, khu vực cấm và khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản hoàn toàn không được tiến hành hoạt động khoáng sản.
Khu vực cấm và khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản
Khoản 1 Điều 26 yêu cầu khoanh định khu vực cấm hoạt động khoáng sản đối với khu vực có, hoặc được bảo vệ vì, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc di sản thiên nhiên; đất rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, khu vực bảo tồn địa chất và khu bảo tồn biển; đất quốc phòng, an ninh; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; hoặc hành lang bảo vệ công trình quốc phòng, giao thông, thủy lợi, thủy điện và đê điều, hệ thống cấp nước và xử lý chất thải, công trình năng lượng và dầu khí, và hạ tầng viễn thông. Khoản 2 Điều 26 cho phép khoanh định khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản vì lý do quốc phòng, an ninh, bảo tồn thiên nhiên, nguồn lợi thủy sản hoặc di tích đang được xem xét, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, và đối với bờ sông, bờ biển đang bị sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khoanh định cả hai loại khu vực và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (khoản 4 Điều 26).
Việc thăm dò hoặc khai thác trong các khu vực đó chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận đặc biệt theo khoản 3 Điều 26, được sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15, và Điều 14 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định thủ tục. Nếu một khu vực đã được cấp phép sau đó bị khoanh định là khu vực cấm hoặc khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, giấy phép thăm dò hoặc giấy phép khai thác bị thu hồi và chủ giấy phép được bồi thường theo khoản 4 Điều 52 và khoản 5 Điều 66. Do đó, bên mua giấy phép không chỉ cần kiểm tra tình trạng hiện tại của khu vực mà cả việc khoanh định đang được xem xét có ảnh hưởng đến khu vực đó, đặc biệt là gần sông, rừng và các công trình hạ tầng đã được quy hoạch.
Đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Khoản 1 Điều 100 yêu cầu đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại các khu vực quy hoạch cho hoạt động khoáng sản, khu vực khai thác tận thu khoáng sản và đối với khoáng sản nhóm IV, trừ các trường hợp không đấu giá. Phiên đấu giá do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép tổ chức, tức là Bộ Công Thương đối với khu vực khoáng sản nhóm I thuộc thẩm quyền của bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các khu vực còn lại, trên cơ sở kế hoạch đấu giá hằng năm được phê duyệt theo Điều 144 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP. Các Điều từ 101 đến 106 của Luật và các Điều từ 143 đến 149 của Nghị định quy định nguyên tắc, giá khởi điểm, bước giá và tiền đặt trước, điều kiện của người tham gia đấu giá, quyền và nghĩa vụ của người trúng đấu giá, cách tính tiền cấp quyền tại khu vực đấu giá và việc hủy kết quả đấu giá. Phiên đấu giá chỉ được tiến hành khi có ít nhất hai người tham gia đủ điều kiện (Câu hỏi thường gặp 105).
Người tham gia đấu giá phải là chủ thể có thể được cấp giấy phép sau đó: doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp (hoặc, đối với thăm dò, doanh nghiệp nước ngoài có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện), có năng lực tài chính theo yêu cầu đối với hoạt động thăm dò hoặc khai thác. Về bản chất, đối tượng được đấu giá là tỷ lệ R trong công thức tính tiền cấp quyền: mức trúng đấu giá thay thế tỷ lệ quy định tại Phụ lục III của Nghị định. Đấu giá được thực hiện dưới hai hình thức: đấu giá tại khu vực chưa thăm dò khoáng sản, sau đó người trúng đấu giá phải đề nghị cấp giấy phép thăm dò, và đấu giá tại khu vực đã có kết quả thăm dò được công nhận, sau đó người trúng đấu giá trực tiếp đề nghị cấp giấy phép khai thác. Trường hợp khu vực có từ hai loại khoáng sản trở lên, Điều 148 của Nghị định xác định loại khoáng sản được đưa ra đấu giá. Khoản 2 Điều 104 của Luật và Điều 148a của Nghị định quy định thời hạn mà người trúng đấu giá phải nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép; người trúng đấu giá không nộp hồ sơ đúng hạn, hoặc không nộp các khoản tiền phải nộp, có nguy cơ bị hủy kết quả đấu giá theo Điều 106 và mất tiền đặt trước.
Các trường hợp quyền khai thác khoáng sản không được đấu giá
Khoản 2 Điều 100 cho phép khoanh định các khu vực cấp quyền khai thác khoáng sản không qua đấu giá vì mục đích an ninh năng lượng, quốc phòng, an ninh, sử dụng hiệu quả khoáng sản chiến lược, quan trọng và vật liệu cho các dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư công khẩn cấp và chương trình mục tiêu quốc gia, và Luật số 147/2025/QH15 đã mở rộng danh mục này. Điều 143 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP hiện quy định các tiêu chí: khu vực khoáng sản phóng xạ và than (trừ than và than bùn tại khu vực phân tán, nhỏ lẻ); khu vực thuộc vành đai biên giới quốc gia; khu vực được ưu tiên thăm dò nâng cấp hoặc mở rộng cho tổ chức đang khai thác; khu vực do tổ chức đã tham gia điều tra địa chất lựa chọn; khoáng sản nhóm III và nhóm IV làm vật liệu xây dựng cho các dự án công được liệt kê tại khoản 1a Điều 55 của Luật; khu vực thuộc thỏa thuận hợp tác liên Chính phủ; khu vực khoáng sản chiến lược, quan trọng; khu vực đã đấu giá không thành ba lần; đá vôi và sét làm xi măng, phụ gia xi măng và nguyên liệu cho các nhà máy chế biến đang hoạt động; và khu vực cần thiết để cấp giấy phép khai thác cho tổ chức thăm dò có quyền ưu tiên, hoặc để gia hạn, cấp lại, điều chỉnh hoặc chuyển nhượng giấy phép hiện có. Bộ Công Thương khoanh định các khu vực không đấu giá thuộc thẩm quyền của bộ để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt các khu vực thuộc thẩm quyền của mình (khoản 3 và khoản 4 Điều 100; Điều 143a của Nghị định).
Tại khu vực không đấu giá, tổ chức thăm dò được lựa chọn theo Điều 39 của Luật và Điều 30, Điều 31 của Nghị định. Tổ chức có tên trong văn bản phê duyệt khu vực không đấu giá được lựa chọn trước; nếu không có, khu vực được công bố công khai, và nếu có nhiều hơn một tổ chức nộp hồ sơ, ưu tiên thuộc về tổ chức có vốn chủ sở hữu lớn nhất đáp ứng quy định về năng lực tài chính, sau đó đến tổ chức đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính tại các mỏ hiện có. Tại vành đai biên giới quốc gia, chỉ nhà đầu tư trong nước được lựa chọn, với sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý biên giới (khoản 2 Điều 30 của Nghị định), điều này loại trừ các công ty được coi là nhà đầu tư nước ngoài theo pháp luật về đầu tư. Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản khi đó được tính theo tỷ lệ tại Phụ lục III thay vì mức trúng đấu giá. Đối với nhà đầu tư nước ngoài xây dựng nhà máy chế biến, tiêu chí nguyên liệu cho sản xuất xi măng và chế biến là hữu ích nhất: nhà đầu tư có nhà máy đang hoạt động có thể bảo đảm được mỏ nguyên liệu mà không phải cạnh tranh qua đấu giá.
Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
Điều 98 của Luật yêu cầu mọi tổ chức khai thác phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Theo Điều 132 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, khoản tiền này được tính theo công thức T = Q x G x R, trong đó Q là trữ lượng hoặc khối lượng tính tiền cấp quyền theo Điều 133, G là giá tính tiền cấp quyền theo Điều 134 (giá tính thuế tài nguyên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành nhân với hệ số quy đổi tại Phụ lục IV), và R là tỷ lệ thu quy định tại Phụ lục III của Nghị định đối với khu vực không đấu giá hoặc mức trúng đấu giá đối với khu vực đấu giá (Câu hỏi thường gặp 107). Trường hợp giấy phép bao gồm nhiều loại khoáng sản, tiền cấp quyền được tính riêng cho từng loại.
Tổng số tiền được chia cho số năm của giấy phép và nộp hằng năm: khoản nộp năm đầu tiên trong thời hạn 24 ngày làm việc kể từ ngày có thông báo của cơ quan thuế, và các khoản nộp tiếp theo trước ngày 31 tháng 5 hằng năm (Điều 137). Tiền cấp quyền sau đó được quyết toán theo sản lượng khai thác thực tế theo Điều 139 và Điều 140, để điều chỉnh số nộp thừa hoặc nộp thiếu, và có thể được điều chỉnh khi giấy phép được điều chỉnh. Trường hợp hoạt động khai thác bị tạm dừng theo yêu cầu của Nhà nước mà không do lỗi của tổ chức khai thác, không phải nộp tiền cấp quyền cho những năm tạm dừng. Tiền cấp quyền không phải là thuế nhưng do cơ quan thuế cấp tỉnh thu, và việc còn nợ là căn cứ để từ chối gia hạn và chuyển nhượng.
Hướng dẫn ra quyết định
Giấy phép nào, và cơ quan nào?
Định hướng ban đầu cho một mỏ dự kiến. Câu trả lời được xác định bởi câu hỏi đầu tiên dẫn đến kết quả; cần đối chiếu với quy hoạch và cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép trước khi nộp hồ sơ.
- Khoáng sản có phải là đất hiếm, khoáng sản phóng xạ hoặc khoáng sản khác được Nhà nước xếp vào danh mục khoáng sản chiến lược đặc biệt không?CóBộ Công Thương cấp phép, nhưng chỉ sau khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với giấy phép và chủ giấy phép. Điều kiện được giới hạn ở các doanh nghiệp được Nhà nước chỉ định hoặc cho phép và, đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo các điều kiện của hiệp định liên Chính phủ. Xem mục Khoáng sản chiến lược, đất hiếm và xuất khẩu.KhôngChuyển sang câu hỏi 2.
- Khoáng sản có phải chỉ phù hợp làm vật liệu san lấp, đắp nền móng, công trình thủy lợi hoặc phòng, chống thiên tai (nhóm IV) không?CóChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Không cần giấy phép thăm dò; giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV có thời hạn tối đa 10 năm, gia hạn tối đa 5 năm, thường thông qua đấu giá trừ khi vật liệu cung cấp cho dự án công đáp ứng điều kiện (các Điều từ 72 đến 74; Điều 88 của Nghị định).KhôngChuyển sang câu hỏi 3.
- Khoáng sản có thuộc nhóm II hoặc nhóm III (nguyên liệu sản xuất xi măng, gạch ốp lát, thủy tinh, vôi hoặc vật liệu chịu lửa; vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, nước khoáng) không?CóChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với cả thăm dò và khai thác. Kiểm tra xem khu vực có nằm trong kế hoạch đấu giá của tỉnh hay đáp ứng tiêu chí khu vực không đấu giá (ví dụ: đá vôi và sét cho nhà máy xi măng đang hoạt động).KhôngChuyển sang câu hỏi 4.
- Mỏ khoáng sản nhóm I có nằm tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được bộ khoanh định và công bố, hoặc là hoạt động khai thác tận thu không?CóChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 108, đã được sửa đổi).KhôngBộ Công Thương, là bộ được giao quản lý địa chất và khoáng sản kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026, bao gồm cả các khu vực biển nằm ngoài ranh giới vùng biển của cấp tỉnh. Dự kiến phải đấu giá, trừ khi khu vực được khoanh định là khu vực không đấu giá.
Bốn nhóm khoáng sản và phân định thẩm quyền cấp phép
| Nhóm | Khoáng sản điển hình | Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép | Giấy phép thăm dò khoáng sản | Đấu giá |
|---|---|---|---|---|
| Nhóm I | Than, sắt, bauxit, đồng, vàng, thiếc, vonfram, titan, đất hiếm, đá quý, apatit, graphit | Bộ Công Thương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ; Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đối với đất hiếm | Bắt buộc; tối đa 48 tháng, gia hạn tối đa 24 tháng | Đấu giá tại khu vực quy hoạch trừ trường hợp không đấu giá (an ninh năng lượng, khoáng sản chiến lược, kết quả thăm dò đã được công nhận, gia hạn) |
| Nhóm II | Đá vôi và sét làm xi măng, cao lanh và fenspat cho gốm sứ, cát thủy tinh, đá ốp lát, đolomit để sản xuất vôi, vật liệu chịu lửa | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh | Bắt buộc | Đấu giá trừ trường hợp không đấu giá, đáng chú ý là nguyên liệu cho sản xuất xi măng và chế biến |
| Nhóm III | Đá xây dựng thông thường, cát, sỏi, than bùn, bùn khoáng, nước khoáng và nước nóng thiên nhiên | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hộ kinh doanh có thể được cấp giấy phép | Bắt buộc (giới hạn diện tích nhỏ hơn) | Đấu giá trừ trường hợp cung cấp cho các dự án công được liệt kê hoặc thuộc trường hợp không đấu giá khác |
| Nhóm IV | Sét, đất đồi, đất lẫn đá, cát san lấp | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh | Không bắt buộc; chỉ cần điều tra thông tin chung về khoáng sản | Đấu giá theo nguyên tắc chung; miễn đối với nhà thầu thi công dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư công khẩn cấp và công trình phòng, chống thiên tai |
| Khai thác tận thu khoáng sản | Khoáng sản còn lại tại mỏ đã đóng cửa hoặc khu vực dự án | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh | Không bắt buộc | Đấu giá theo nguyên tắc chung |
Ví dụ minh họa
Bảo đảm mỏ đá vôi cho dây chuyền clinker mới
Một tập đoàn xi măng Thái Lan, thông qua công ty con tại Việt Nam, đang xây dựng dây chuyền clinker thứ hai bên cạnh nhà máy đang hoạt động ở miền Bắc và cần 60 triệu tấn đá vôi trong 30 năm. Đá vôi này là khoáng sản nhóm II. Các số liệu, tỷ lệ và mốc thời gian chỉ mang tính minh họa, và tỷ lệ R là giả định chứ không lấy từ Phụ lục III.
| Kiểm tra quy hoạch (tháng thứ 1) | Mỏ nằm trong quy hoạch quốc gia đối với khoáng sản nhóm II; không thuộc khu vực cấm, khu vực tạm thời cấm hoặc khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia. |
|---|---|
| Đấu giá hay không (tháng thứ 1 đến tháng thứ 3) | Là đá vôi làm xi măng đã được xác định trong quy hoạch khoáng sản nhóm II và là nguyên liệu cho nhà máy đang hoạt động, khu vực này đáp ứng khoản 10 Điều 143 của Nghị định; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt việc khoanh định khu vực này là khu vực không đấu giá theo khoản 4 Điều 100. |
| Cơ quan có thẩm quyền | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với cả thăm dò và khai thác (Điều 108). |
| Thăm dò (tháng thứ 4 đến tháng thứ 22) | Giấy phép thăm dò khoáng sản thời hạn 18 tháng trên diện tích 3 km2; năng lực tài chính được chứng minh bằng vốn chủ sở hữu bảo đảm 100% dự toán thăm dò (Điều 26 của Nghị định). |
| Công nhận trữ lượng (tháng thứ 23 đến tháng thứ 28) | Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận trữ lượng 65 triệu tấn (khoản 2 Điều 51). |
| Giấy phép khai thác (tháng thứ 29 đến tháng thứ 36) | Giấy phép thời hạn 30 năm với công suất 2 triệu tấn/năm, sau khi có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và hoàn tất thủ tục đất đai. |
| Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản | Giả định Q = 60 triệu tấn, G = 90.000 đồng/tấn và R = 3%: T = 60.000.000 x 90.000 x 3% = 162 tỷ đồng, nộp khoảng 5,4 tỷ đồng mỗi năm trong 30 năm và quyết toán theo sản lượng khai thác thực tế. |
| Thuế tài nguyên | Đá vôi làm xi măng chịu thuế suất 10% trên giá tính thuế (Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13), nộp trên sản lượng khai thác thực tế cùng với tiền cấp quyền. |
Nếu tập đoàn muốn dùng đá vôi để sản xuất đá dăm bán cho bên thứ ba, khoáng sản sẽ thuộc nhóm III, khu vực nhiều khả năng sẽ được đấu giá, và mức R trúng đấu giá sẽ thay thế tỷ lệ giả định 3%.
Nếu mỏ nằm trong khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, giấy phép sẽ phải có đánh giá trước về tác động đến khoáng sản dự trữ và không được kéo dài quá thời hạn dự trữ.
Câu hỏi nhà đầu tư thường gặp về nhóm khoáng sản, cấp phép và đấu giá
Cơ quan nào cấp giấy phép khai thác vàng hoặc đồng tại Việt Nam?
Bộ Công Thương, là bộ được giao quản lý địa chất và khoáng sản kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026, vì vàng và đồng là khoáng sản kim loại nhóm I. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ cấp phép đối với các khoáng sản này tại khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được bộ khoanh định và công bố, theo Điều 108 được sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15.
Khu vực khai thác của tôi có bị đấu giá không?
Có khả năng, nếu khu vực nằm trong khu vực khoáng sản đã được quy hoạch, trừ khi thuộc một trường hợp không đấu giá theo Điều 100: an ninh năng lượng, quốc phòng, khoáng sản chiến lược, vật liệu cho các dự án công ưu tiên, nguyên liệu cho sản xuất xi măng hoặc chế biến, kết quả thăm dò đã được công nhận hoặc gia hạn. Phiên đấu giá cần có ít nhất hai người tham gia đủ điều kiện, và mức trúng đấu giá xác định tỷ lệ tính tiền cấp quyền.
Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được tính như thế nào?
Theo Điều 132 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được tính theo công thức T = Q x G x R: trữ lượng được cấp phép nhân với giá tính thuế tài nguyên và nhân với tỷ lệ thu tại Phụ lục III hoặc mức trúng đấu giá. Tiền cấp quyền được nộp theo từng năm, hạn nộp là ngày 31 tháng 5 đối với các năm sau năm đầu tiên, và được quyết toán theo sản lượng khai thác thực tế.
Tôi có thể khai thác khoáng sản trong rừng hoặc gần sông không?
Không được khai thác tại đất rừng đặc dụng hoặc rừng phòng hộ, di tích đã được xếp hạng, hoặc hành lang bảo vệ đê điều, công trình thủy lợi, giao thông và năng lượng, là những khu vực mà Điều 26 quy định là khu vực cấm hoạt động khoáng sản. Bờ sông đang bị sạt lở có thể bị khoanh định là khu vực tạm thời cấm. Việc khai thác tại các khu vực đó phải có sự chấp thuận đặc biệt theo khoản 3 Điều 26, và việc cấm sau này dẫn đến thu hồi giấy phép kèm theo bồi thường.
Tôi có cần giấy phép thăm dò đối với cát san lấp hoặc sét không?
Không, nếu vật liệu là khoáng sản nhóm IV chỉ phù hợp làm vật liệu san lấp, đắp nền móng, công trình thủy lợi hoặc phòng, chống thiên tai. Điều 73 miễn thăm dò, chỉ yêu cầu điều tra thông tin chung về khoáng sản, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV có thời hạn tối đa 10 năm, gia hạn tối đa 5 năm.
Thuật ngữ thường gặp trong hồ sơ, tài liệu
| Tiếng Anh | Tiếng Việt | Giải nghĩa |
|---|---|---|
| Mineral group | Nhóm khoáng sản | Nhóm I đến nhóm IV theo Điều 6, phân loại theo mục đích sử dụng. |
| Mineral planning | Quy hoạch khoáng sản | Quy hoạch quốc gia đối với khoáng sản nhóm I và nhóm II và quy hoạch cấp tỉnh đối với khoáng sản nhóm III và IV. |
| Auction of mining rights | Đấu giá quyền khai thác khoáng sản | Việc trao khu vực khoáng sản thông qua cạnh tranh theo các Điều từ 100 đến 106. |
| Non-auction area | Khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản | Khu vực cấp quyền khai thác khoáng sản không qua đấu giá (khoản 2 Điều 100). |
| Fee for granting mining rights | Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản | Khoản thu T = Q x G x R theo Điều 98, Điều 99 của Luật và Nghị định số 193/2025/NĐ-CP. |
| Salvage mining | Khai thác tận thu khoáng sản | Thu hồi khoáng sản còn lại tại mỏ đã đóng cửa hoặc khu vực dự án (các Điều từ 67 đến 71). |
| Temporarily prohibited area | Khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản | Khu vực bị đóng vì lý do quốc phòng, bảo tồn, thiên tai hoặc sạt lở (khoản 2 Điều 26). |
| Deposit for auction | Tiền đặt trước | Khoản tiền người tham gia đấu giá nộp để được tham gia phiên đấu giá. |
Nội dung liên quan trong cẩm nang
Câu hỏi thường gặp liên quan (tiếng Anh)
Nguồn chính thức
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn): Luật số 54/2024/QH15, Điều 6, các Điều từ 11 đến 13, từ 26 đến 34, từ 98 đến 108; Luật số 147/2025/QH15
- Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam: văn bản hợp nhất Nghị định số 193/2025/NĐ-CP (Điều 4, Điều 30, Điều 31, các Điều từ 132 đến 149)
- Bộ Công Thương (cấp phép và đấu giá khoáng sản nhóm I kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2026)
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 866/QĐ-TTg về quy hoạch khoáng sản thời kỳ 2021 - 2030
Bạn có câu hỏi về trường hợp cụ thể của mình?
Hãy hỏi Lawbot, chatbot AI cung cấp thông tin pháp lý của Be Vietnam Wise. Lawbot đối chiếu các nguồn chính thức của Việt Nam và chỉ dẫn đến văn bản pháp luật điều chỉnh. Nếu bạn cần hỗ trợ cho dự án hiện tại hoặc có câu hỏi về kinh doanh tại Việt Nam, vui lòng liên hệ với chúng tôi.
Hỏi Lawbot về nội dung nàyMở trong ứng dụngLiên hệ với chúng tôiTrang này cung cấp thông tin pháp lý và thuế, không phải ý kiến tư vấn pháp lý. Thuế suất, ngưỡng và thủ tục có thể thay đổi; nội dung được rà soát theo các nguồn chính thức, nhưng trước khi hành động, bạn nên xác nhận mọi vấn đề quan trọng với cơ quan có thẩm quyền hoặc với luật sư được phép hành nghề tại Việt Nam. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Anh; nếu có khác biệt, văn bản pháp luật gốc bằng tiếng Việt là căn cứ duy nhất có giá trị pháp lý.